Hỏi Đáp

Âm và phân biệt âm trong ngôn ngữ tiếng Việt

Tiếng Việt có nguyên âm và phụ âm.

Nguyên âm bao gồm các nguyên âm, song âm và ba.

Bạn đang xem: âm trong tiếng việt là gì

Có 12 nguyên âm, bao gồm: a, ă, â, u, u, o, o, õ, e, ê, i, y. Các điệp ngữ bao gồm: ai, ao, au, au, ay, ey, eo, eu, ia, iê, y, iu, oa, o, oe, oi, oh, oh, oo, ooh, ua, ye, uã, kia , ue, ui, ui, uo, ooh, uu, uu, u, uy Ba nguyên âm gồm: ieu, love, oai, ooo, oay, oeo, uao, wa, ow, ooh, uu, uya, uh, uh . Tất cả các âm chính trong ngôn ngữ đều là nguyên âm. Các âm luôn được đặt phía trên các nguyên âm. Không có nguyên âm thì không có âm thanh.

Nguyên âm là một rung động hoặc âm thanh trong thanh quản không bị cản trở khi chúng ta đẩy không khí từ thanh quản đến môi. Các nguyên âm có thể tự tồn tại khi nói hoặc có thể tạo thành âm sau phụ âm.

Phụ âm bao gồm phụ âm đơn và phụ âm ghép. Các phụ âm đơn gồm: b, c, d, đ, g, h, k, l, m, n, p, q, r, s, t, v, x, các phụ âm ghép gồm: ch, gh, gi, kh, nh, ng, ng, ph, qu, th, tr.

Phụ âm là âm thanh phát ra từ cổ họng qua miệng, nhưng khi âm thanh phát ra, luồng hơi bị chặn lại bởi môi khi phát ra, khét lẹt và lười biếng. Phụ âm chỉ được phát ra thành tiếng khi kết hợp với các nguyên âm.

Âm thanh im lặng: Một âm thanh không làm rung cổ họng. Nó giống như một tiếng ồn nhẹ như rít, bốp, gió, v.v.: / p /, / s /, / k /, t /, / ch /…

Xem thêm: Nguồn gốc và ý nghĩa ngày Tết Hàn thực 3/3 âm lịch – KhoaHoc.tv

Giọng: là những âm làm rung thanh quản khi phát âm, chẳng hạn như / b /, / d /, / g /, / v /, z /…

Pause: là một phụ âm trong đó luồng khí đi ra bị cản trở hoàn toàn tại vị trí phát âm do sự tiếp xúc chặt chẽ của các cơ quan liên quan đến cấu trúc trong quá trình phát âm. Ví dụ. Các phụ âm trong tiếng Việt / b /, / p /, / d /, / t /, / k / (các chữ cái b, p, đ, t, k) đều là Âts.

XEM THÊM:  Ong làm tổ trong nhà và những điềm mà chúng mang lại cho ngôi nhà bạn

Tùy thuộc vào cách phát âm, Â Â Â Â trong tiếng Việt, các chữ cái đầu / p- /, / t- /, / k- / ( chữ viết p, t; c, k, q) là tiếng nổ và các phụ âm cuối / -p /, / -t /, / -k / (chữ cái p, t, c, ch) là âm tiết.

Tắc nghẽn thanh quản: Âm thanh tạo ra do cản trở luồng không khí qua thanh quản khi thanh quản đóng. Trong nhiều ngôn ngữ, kể cả tiếng Việt, việc đóng dấu khe ở đầu phát âm nguyên âm tạo ra Âttq (ký hiệu?), Chẳng hạn. [? i], [? a], [? ui], v.v. Các âm tiết không đóng trong tiếng Việt (như “mà”, “mai”, “mạn”) có Âttq ở cuối thanh nặng, thường được gọi là hiện tượng tắc yết hầu. Ngoài ra còn có Âttq (mạnh hoặc nhẹ) ở giữa thanh ngã (ví dụ: “la”, “già”, “lan”), còn được gọi là hiện tượng tắc nghẽn thanh quản vỡ. Âttq không được viết bằng tiếng Việt.

Ma sát: là một phụ âm cho phép cọ xát nhẹ bằng cách tạo thành vật cản đối với luồng không khí và một khe hẹp tiếp theo tại cùng một vị trí khớp. Một phụ âm mòn thường được coi là sự kết hợp của một dấu dừng và một âm tiếp theo. Trong hệ thống ngữ âm của tiếng Việt không có Âtx như một số ngôn ngữ khác (Anh, Nga, Trung, v.v.).

Quả: Là một phụ âm ồn ào được hình thành do ma sát do các bộ phận phát âm tiếp xúc không hoàn toàn (không tiếp xúc chặt chẽ), hơi nước thoát ra từ khe hẹp. Ví dụ. Các âm đầu của từ tiếng Việt như “vui”, “sôi nổi”, “xa”, “dịu dàng”, “gặp gỡ”, “hào hứng” đều là phụ âm: / v- /, / f- /, / s- /, / z- /, / ɤ- /, / χ- / (chữ v, ph, x, d, g, kh).

XEM THÊM:  20. 22. TÂY THÁI HẬU THÙY LIÊM THÍNH CHÍNH | Ông Giáo Làng

Âm tiết mở: là âm tiết tiếng Việt kết thúc bằng một nguyên âm tạo đỉnh. Về mặt sinh lý – lời nói, các nguyên âm đạt đỉnh ở cuối âm tiết, luồng không khí trong âm tiết chảy tự do, không bị cản trở vào miệng, ví dụ. “Thuốc”, “Hoa”, “Cây náng”, v.v.

Tham khảo: Nguyên nhân chính gây ra hiện tượng cây bị vàng lá – Công Nghệ Xanh Việt Nam : Công Nghệ Xanh Việt Nam

Âm tiết đóng: là các âm tiết tiếng Việt kết thúc bằng một dấu ngắt thanh, chẳng hạn như / -p /, / -t /, / -k /. Theo thuật ngữ âm vị học vật lý, những âm cuối này kết thúc âm tiết trong một mô hình đóng (không bật ra), được gọi là mô hình đóng, chẳng hạn. “gấp gáp”, “bận rộn”, “gỉ”, “tách biệt”, v.v. Nhiều ngôn ngữ thiểu số ở Việt Nam cũng có một loại tk.

Âm tiết bán khép: là âm tiết tiếng Việt kết thúc bằng phụ âm âm mũi, chẳng hạn như / – m /, / -n /, / -η /. Theo thuật ngữ vật lý-âm vị học, những âm cuối này kết thúc âm tiết thông qua một vật cản trong khoang miệng, trong khi không khí âm thanh đi qua khoang mũi do vòm miệng mềm hạ xuống, chẳng hạn. “Miền Nam”, “Xuất sắc”, “Hành chính”, v.v.

Âm tiết nửa mở : Các âm tiết tiếng Việt kết thúc bằng nửa nguyên âm: / -w / và / -j / (x. nửa nguyên âm). Về mặt sinh lý – ngữ âm và các đặc điểm ngữ âm, các âm cuối / -w / và / -j / có các đặc điểm tương tự như các nguyên âm / u / và / i /, nhưng được phát âm trôi chảy và không mở hoàn toàn như / u / và / i / . Phương pháp kết thúc âm tiết bằng một nửa nguyên âm được gọi là nửa mở, chẳng hạn như “dễ thương”, “sao chổi”, “đối lập”.

XEM THÊM:  Vật chất trơ: nó là gì, đặc điểm và loại | Năng lượng tái tạo xanh

Âm tiết: l à Cách phát âm:

  1. Có các đặc tính của âm tiết khi nói đến sự hình thành âm tiết, trọng âm của âm tiết, các ký tự của âm tiết.
  2. Về mặt cấu trúc có trạng thái của một yếu tố cấu trúc âm tiết. Âm tiết, thành phần được phát âm, có âm vang (mạnh), có nhiều năng lượng hơn (dòng chảy tự do), và xuất hiện ở đầu âm tiết. Thành phần cấu tạo âm tiết hay yếu tố Ât của âm tiết tiếng Việt là nguyên âm (x. Tonic). Ví dụ. Trong từ “ngữ”, nguyên âm / o / (chữ viết) và nguyên âm / / (chữ) là các yếu tố Âtt. Ngoài ra, trong một số ngôn ngữ, phần tử Âtt có thể là một phụ âm cộng hưởng, ví dụ. Tiếng Anh: table, little, v.v.
  3. Ngôn ngữ có cấu trúc Att là ngôn ngữ sử dụng âm tiết làm đại lượng cơ bản để tạo thành các đơn vị ngôn ngữ. Các ngôn ngữ ở cấp độ hình thái (hình vị, từ, v.v.) như tiếng Việt, tiếng Thái, tiếng Trung, v.v.

Âm tiết: là một âm tiết như một đơn vị của lời nói. Trong các ngôn ngữ có cấu trúc âm tiết (tiếng Việt, tiếng Hán, v.v.), ranh giới âm tiết hầu như luôn trùng với ranh giới hình vị, vì vậy có quan niệm cho rằng âm tiết có tư cách là âm tiết. Nó là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất tạo nên một âm tiết. Các tín hiệu ngôn ngữ trong các ngôn ngữ này hơi giống với âm vị trong các ngôn ngữ đa nghĩa.

Môi: là một nguyên âm tròn. Ví dụ. Trong tiếng Việt, các nguyên âm sau / u /, / o /, / Ɔ / (chữ cái u, o, o) đều là âm tiết. Trong một số ngôn ngữ khác, nguyên âm đứng trước cũng có thể là Âtm.

Nguồn: Tổng hợp và từ vtudien.com

Tham khảo: Góa phụ đen – Loài nhện tàn độc nhất thế giới

Vậy là đến đây bài viết về Âm và phân biệt âm trong ngôn ngữ tiếng Việt đã dừng lại rồi. Hy vọng bạn luôn theo dõi và đọc những bài viết hay của chúng tôi trên website Xettuyentrungcap.edu.vn

Chúc các bạn luôn gặt hái nhiều thành công trong cuộc sống!

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button