Hỏi Đáp

Đại cương nấm y học

Sơ lược về nấm dược liệu

Khái niệm.

Theo phân loại của whittaker (1969), thế giới sinh vật bao gồm năm giới: Thực vật, Động vật, Nấm, Động vật nguyên sinh và Monera.

Nấm là sinh vật thực, dị dưỡng, có vách tế bào và nhân, sinh sản bằng bào tử.

Bạn đang xem: Cấu tạo của nấm là gì

Tế bào nhân thực: Là tế bào có màng tế bào bao quanh nhân và các bào quan như ti thể, bộ máy Golgi, lưới nội chất, lysosome … Tế bào nhân sơ như vi khuẩn, Chlamydia … Tế bào và các bào quan đó không có màng nhân.

Dị dưỡng: Nấm không có diệp lục nên chúng không thể thực hiện quang hợp tự dưỡng (quang hợp) như thực vật và tảo (tảo). Nấm là sinh vật dị dưỡng hấp thụ chất hữu cơ trên các sinh vật chết hoặc ký sinh trên các cơ thể sống khác nhờ vi khuẩn hoại sinh. Chúng có một hệ thống men phong phú có thể lấy chất dinh dưỡng từ môi trường.

Nấm có thành tế bào và do đó không thể di chuyển như động vật.

Nấm phân bố rộng rãi trong tự nhiên, không khí, đất, nước, động vật và thực vật sống hoặc chết. Người ta ước tính rằng có hơn 1.000.000 loài nấm, hầu hết là hoại sinh trong đất, một số ít có khả năng gây bệnh cho người và động vật. Hiện nay, có khoảng 400 loài gây bệnh cho người.

Thần học là nghiên cứu về nấm và giống như nấm, có rất nhiều chuyên ngành

(Hình thái, sinh lý, sinh thái, nguồn gốc, các nghiên cứu phân loại nấm …),

Công nghệ Nấm (nghiên cứu việc sử dụng nấm trong sản xuất thực phẩm và đồ uống …).

Nghiên cứu nấm dược liệu về nấm ký sinh gây bệnh cho người … Lịch sử của nấm dược liệu bắt đầu từ năm 1839, khi schoenlein L. phát hiện ra nguyên nhân gây bệnh nấm tóc. Từ đó đến nay, nhiều tác giả đã tiến hành nghiên cứu về nấm và bệnh nấm, và ngày càng có nhiều nhận thức về nấm, bệnh do nấm và các biện pháp phòng trừ. Nấm có thể gây bệnh không chỉ cho da, lông, tóc, móng mà còn cho hầu hết các cơ quan nội tạng.

Cấu tạo và đặc tính vật lý của nấm.

Cấu trúc:

Cấu trúc chung của tế bào nấm tương tự như tế bào động vật, có màng tế bào, tế bào chất, các bào quan và nhân; ngoài ra, nấm còn có thành tế bào.

Thành tế bào: gồm nhiều lớp, 90% polysaccharid, bao gồm các polyme hexose và hexosamine, như chitin, dextran, mannan …, 10% protein và glycoprotein. Thành tế bào đảm bảo hình dạng, độ cứng, độ rắn chắc và bảo vệ tế bào nấm khỏi áp lực thẩm thấu. thành tế bào kháng nguyên.

Hình 17.1 : Sơ đồ cấu trúc tế bào nấm.

Màng tế bào: bao gồm hai lớp, bao gồm phospholipid và sterol (ergosterol, men rượu). Màng tế bào có các chức năng bảo vệ tế bào chất, điều hòa sự bài tiết và hấp thụ các chất tan, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tổng hợp thành tế bào và vỏ.

Các bào quan: Ti thể, không bào, túi, microsome, ribosome, tinh thể glycogen, bộ máy Golgi … là nơi nâng đỡ và sắp xếp của lưới nội chất và các vi ống cực nhỏ.

Nhân: Tế bào nấm có thể có một hoặc nhiều nhân. Nhân có nhân, màng nhân có hai lớp. Nhân nấm tương tự như nhân của sinh vật bậc cao. – Quả nang: Một số loại nấm có cấu trúc quả nang, polysaccharid, có tác dụng bảo vệ nấm chống lại sự thực bào và là nhân tố độc lực của nấm. Trong y học, nấm bao quy đầu là Cryptococcus neoformans.

Nội dung:

Nấm có hai phần chính, phần sinh dưỡng và phần sinh sản.

Phần thú y: Nấm gây bệnh thường có kích thước nhỏ, phải quan sát dưới kính hiển vi mới được gọi là nấm. Dựa vào hình dạng và hình dạng, nấm được chia thành hai loại lớn: nấm men và nấm sợi.

Nấm men: Cấu trúc đơn bào, hình tròn hoặc bầu dục, kích thước 3 – 15 µm. Nhiều tác giả cho rằng nấm có tế bào nấm men tròn để thích nghi với điều kiện môi trường lỏng, áp suất thẩm thấu cao (nhất là trong môi trường nhiều đường như hoa quả …). Khuẩn lạc nấm men thường nhớt, tương tự như khuẩn lạc vi khuẩn.

Nấm sợi (dạng sợi hoặc nấm mốc): Bao gồm các sợi nấm đa bào. Dạng sợi giúp nấm dễ dàng xâm nhập vào các ngóc ngách hơn, đồng thời nấm Candida ký sinh cũng tạo ra các giả sợi để xâm nhập sâu vào mô.

Cấu trúc sợi nấm: Có hai loại sợi: sợi nấm không phân ly (sợi nấm không phân tách hoặc anh em) thường có đường kính lớn hơn (trên 5 m) và đường kính nhỏ (lớn hơn 5 m) có đường kính riêng biệt. sợi nấm 2 – 4m). Vách ngăn không hoàn toàn tách rời, nhưng có những lỗ nhỏ để lưu thông vật chất trong sợi nấm, đôi khi đủ lớn để nhân có thể đi qua.

Có màu nâu giúp bảo vệ nấm khỏi tia UV của mặt trời

(Nấm màu được gọi là nấm chết chóc).

Các loại nấm vách ngăn thuộc loài Zygomycota tiến hóa kém hơn vì tổn thương một phần của sợi nấm dẫn đến tổn thương toàn bộ sợi nấm. Ở nấm vách ngăn Basidiomycota và Ascomycota, khi một phần của sợi nấm bị tổn thương, các lỗ trong vách ngăn ngăn cách có thể được đóng lại để bảo vệ phần còn lại của sợi nấm.

Hình ảnh 17.2: Sợi nấm.

a – sợi nấm vách ngăn, b – sợi nấm vách ngăn, c – vách ngăn.

Các sợi nấm đan xen vào nhau để tạo thành các sợi nấm. Khi các sợi nấm phát triển trên môi trường tự nhiên hoặc nhân tạo để tạo thành các khuẩn lạc, các khuẩn lạc sợi nấm thường là bông, len hoặc dạng sợi, và một số nấm có thể tạo ra sắc tố.

Các hình thức của cơ quan sinh sản: Nấm tạo ra bào tử với nhiều hình dạng và kích thước khác nhau. Hình dạng, kích thước và cách sắp xếp của bào tử nấm có giá trị rất lớn đối với việc nhận dạng nấm.

Tính chất sinh học.

Hầu hết các loại nấm có thể phát triển vô hạn trong những điều kiện thích hợp, chẳng hạn như đủ chất dinh dưỡng, nhiệt độ, độ ẩm … thích hợp. Hầu hết các loại nấm đều hiếu khí, một số là kỵ khí. Phần lớn nấm sống trong đất, trên cây sống hoặc chết … chỉ một số ít là ký sinh. Phần lớn nấm ký sinh y học là tùy tiện, một số nấm ký sinh bắt buộc nhưhinosporidium seeberi, loboa loi… không thể nuôi cấy in vitro.

Dinh dưỡng:

Nấm là sinh vật dị dưỡng cần vật chất hữu cơ sẵn có trong môi trường. Nấm có một hệ thống men rất đặc biệt cho phép chúng phân hủy các hợp chất hữu cơ rất mạnh như keratin (da, lông, tóc, móng, sừng …), xenluloza, lignin …, nấm tiết ra các enzym ra môi trường, phá vỡ các chất thành các hợp chất đơn giản hơn để hấp thụ.

Có thể trồng nấm trên các giá thể đơn giản bao gồm nguồn carbohydrate, nguồn nitơ vô cơ và hữu cơ, muối khoáng (p, k, mg, fe, zn, s, mn …) mà không cần sử dụng nitơ không khí. Môi trường Sabouraud là môi trường được sử dụng phổ biến nhất để trồng nấm dược liệu, chỉ chứa glucose, peptone, agar và nước.

Hầu hết các loại nấm không yêu cầu vitamin, nhưng một số loài cần thiamine, biotin … (nấm da, cryptococcus) để phát triển.

Đặc điểm sinh thái:

Nhiệt độ:

Hầu hết các loại nấm là đẳng nhiệt (ưa nhiệt) và phát triển trong khoảng nhiệt độ từ 15 – 350c, hầu hết các loại nấm phát triển mạnh trong điều kiện nhiệt độ cao và nhiệt độ tối ưu cho việc trồng nấm là 25 – 350c. Một số loại nấm ưa nhiệt như Aspergillus fumigatus, Rhizopus microspora … có thể phát triển ở nhiệt độ 45 – 500 độ C. Nấm chỉ gây bệnh ở da và mô dưới da hiếm khi phát triển trên 370c.

Độ ẩm:

Nấm phát triển mạnh khi độ ẩm không khí cao, hầu hết nấm sợi không phát triển khi độ ẩm không khí dưới 70% và nấm phát triển mạnh khi độ ẩm không khí trên 70%. Bệnh nấm da thường gặp ở bẹn, mông, thắt lưng và những nơi kín gió, tăng độ ẩm. Các nước nhiệt đới có nhiệt độ cao, ẩm độ cao nên nấm bệnh phát triển mạnh hơn các nước ôn đới.

ph:

Nấm có thể phát triển trong phạm vi pH rộng (1-9), nhưng chúng ưa axit. Trong môi trường trung tính hoặc hơi kiềm, vi khuẩn phát triển mạnh hơn nấm, cạnh tranh hiệu quả với vi khuẩn ở pH axit, và ở pH 4-6, nấm có thể loại bỏ hoàn toàn vi khuẩn ra khỏi môi trường. PH của môi trường nuôi nấm là 6 – 6,8.

Tốc độ phát triển:

Nấm nói chung sinh trưởng chậm hơn vi khuẩn (vi khuẩn phân chia trung bình 20 phút / lần, nấm phân chia trung bình 4 giờ / lần). Khi nuôi cấy nấm để phân lập cần đảm bảo vô trùng, người ta thường cho kháng sinh vào môi trường nuôi cấy nấm để ức chế vi khuẩn.

Nấm hoại sinh thường phát triển nhanh hơn nấm ký sinh. Môi trường được sử dụng để phân lập nấm thuốc thường chứa một chất kháng sinh chống nấm hoại sinh, actiondion (cycloheximide). Một số nấm gây bệnh nhạy cảm với actidion như Cryptococcus neoformans, Aspergillus … cần được nuôi cấy trong môi trường không có actidion.

Tính đa hình:

Một số loại nấm sẽ xuất hiện biến thái khi chúng được cấy vào môi trường trong thời gian dài, nhiều lần hoặc được cấy vào môi trường không thích hợp. Khuẩn lạc chỉ là một đám sợi trắng không có bào tử không thể xác định được. Các loại nấm thường biến dạng bao gồm Epidermophyton floccosum, Microsporum canis …

Hiện tượng kép (hai trạng thái, hai trạng thái, hai trạng thái):

Một số nấm ký sinh trên vật chủ hoặc khi nuôi cấy trên môi trường giàu dinh dưỡng, trong nấm men 370c, nấm có dạng sợi khi hoại sinh hoặc khi nuôi cấy trong môi trường nghèo dinh dưỡng ở nhiệt độ phòng. Khả năng biến nạp của nấm đóng vai trò quan trọng đối với độc lực của nấm.

Ví dụ: Histoplasma capsulatum, Penicillium marneffei, Sporothrix schenckii, Blastomyces dermatitidis, Paracoccus brasiliensis, Coccidioides immunostain …

Sinh sản:

Một loại nấm sinh sản bằng bào tử, cả hữu tính và vô tính.

Sinh sản hữu tính: tạo ra các bào tử hữu tính như bào tử tử cung, bào tử hợp tử và bào tử cơ bản.

Sinh sản vô tính: Sự phân chia nguyên phân của tế bào bố mẹ tạo ra bào tử, phương thức sinh sản chủ yếu của nhiều loại nấm để duy trì và phát tán.

nấm sợi: bào tử vô tính được tạo ra ở nhiều dạng:

Bào tử tự do trong nang tạo thành túi bào tử (zygomycetes). Từ hình sợi đến bào tử: bào tử đốt, bào tử ngoại, bào tử phấn.

Xem Thêm : Cung Song Tử trong Tiếng Anh là gì: Cách Viết, Ví Dụ

Bào tử chân khớp: Sợi nấm đứt ra ở vách ngăn và tách thành một đoạn ở đỉnh (sợi nấm ngừng phát triển và tạo thành nhiều vách ngăn liên kết chặt chẽ với nhau mà phình ra và tách ra) hoặc sợi nấm hình thành nhiều vách ngăn, vách ngăn phình ra, tế bào tường dày lên.

Bào tử vách dày: Khi chất dinh dưỡng trong môi trường bị cạn kiệt, một số ngăn thu nhận chất dinh dưỡng và vách phình ra và dày lên, tạo thành bào tử dày. Bào tử thô có khả năng chống chịu cao, khi sợi nấm chết đi, bào tử thô vẫn sống sót, khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ phát triển thành sợi nấm. Túi bào tử dày có thể nằm ở giữa hoặc đỉnh của sợi nấm.

Hình 17.3: Bào tử vô tính của một số loại nấm sợi.

1. Bào tử dày;

2. Bào tử đốt.

3. Bào tử phấn hoa.

aleurispore: Phần trên cùng của sợi nấm phồng lên tạo thành vách ngăn bên trong ngăn cách với phần còn lại của sợi nấm và dần dần tách khỏi sợi nấm.

Sản xuất bào tử bằng sợi nấm đặc biệt (hoạt động tế bào): Calicis là một nhánh sợi nấm đặc biệt nhô ra ngoài không khí (sợi nấm trên không) và chịu trách nhiệm sản xuất bào tử.

Hình 17.4: Bào tử được tạo ra từ tế bào chất.

1. Penicillium, 2. Aspergillus.

Nấm men : Hầu hết sinh sản bằng cách nảy chồi để tạo ra bào tử (bào tử) và một số nấm men sinh sản bằng cách phân hạch.

Hình ảnh 17.5: Nấm men nảy mầm

a-men

b-Men bắt đầu nảy mầm

c, d- nụ lớn

e-bud được phân lập từ tế bào mẹ.

Nấm men thường tạo bào tử ở một vị trí, một số loài đến từ nhiều vị trí (paracoccidioides brasiliensis). Hầu hết tách ra khỏi tế bào mẹ trong khi các tế bào con vẫn nhỏ hơn tế bào mẹ, và một số loại nấm (C. albicans) có thể hình thành nấm candida trong khi các tế bào con vẫn gắn vào tế bào mẹ và tiếp tục nhân lên.

Các loại nấm men sinh sản bằng cách phân hạch có thể nằm ngang (P. marneffei) hoặc đa hướng, tạo ra các xơ cứng.

Nấm men cũng có thể tạo ra bào tử capsid.

Vai trò của nấm.

Trong tự nhiên:

Nấm đóng vai trò quan trọng trong sinh quyển, khép lại chu trình chuyển hóa vật chất trong tự nhiên. Trong tự nhiên, thực vật là sinh vật tổng hợp chất hữu cơ, động vật ăn thực vật và chuyển chúng thành các dạng khác, và nấm là sinh vật phân hủy các hợp chất này. Nấm có một hệ thống men phong phú có khả năng phân hủy hầu hết các hợp chất hữu cơ có trong tự nhiên (trừ những loại như nhựa pvc nhân tạo).

Một số enzyme nấm được sử dụng để sản xuất rượu, bia, bánh mì, pho mát … và một số loại nấm cũng được sử dụng làm thực phẩm.

Do sự phân hủy mạnh của nấm, một số enzym của nấm có thể phân hủy giấy, quần áo, len, dạ, da … Trong quá trình sinh trưởng, nấm sẽ sinh ra axit làm hỏng dụng cụ nước, tinh thể, kim loại .. .

Nấm có thể gây bệnh cho vật nuôi và cây trồng, làm giảm năng suất. Nấm phát triển trên sản phẩm, phá hủy thực phẩm và tạo ra chất độc ngấm vào thực phẩm và gây hại cho con người và động vật.

Thuốc:

Nhiều loại thuốc kháng sinh (penicillin, streptomycin …) có nguồn gốc từ nấm.

Một số loại nấm có thể gây độc khi ăn phải: myceualityus choleriformis, m.nervosus, m.cerebralis, m. thực quản, m.sanguinaneous … – Một số loại nấm gây mốc trong thực phẩm tạo ra độc tố ngấm vào thực phẩm và người ăn phải chất độc có thể khiến thực phẩm bị mốc. Tích tụ lâu ngày có hại cho cơ thể. Aflatoxin do Aspergillus flavus tạo ra có thể gây ung thư gan trên thực nghiệm, và độc tố đảo tạo ra bởi Penicillium insulatum có thể gây u gan …

Có nhiều loại nấm có thể lây nhiễm sang người.

Khả năng gây bệnh của nấm.

Ngoại trừ một số loại nấm như nấm da liễu cần ký sinh để duy trì và phát triển, hầu hết các loại nấm gây bệnh đều xảy ra một cách ngẫu nhiên trong tự nhiên. – Nhiễm nấm: qua đường hô hấp (Aspergillus, Cryptococcosis, Histoplasma …), qua da (nấm da, độc tố nấm, Sporothrix …), niêm mạc (nấm Candida qua đường sinh dục lây lan), nấm có thể do phẫu thuật, bỏng (Aspergillus) hoặc qua ống thông (Candida, Malassezia). Nấm có thể là nội sinh, chẳng hạn như Candida albicans.

Nấm có thể hoạt động thông qua hệ thống enzym (da liễu), cơ chế cơ học (nấm tóc), độc tố (Aspergillus tạo ra aflatoxin có thể gây ung thư gan thực nghiệm), phản ứng viêm (Cryptococcus), miễn dịch dị ứng (da: tinea pedis), nấm candida) gây bệnh, màng nhầy: Aspergillus …).

Một số loại nấm có khả năng khu trú đặc hiệu đối với một số mô nhất định: nấm da thường có mô sừng hóa, nấm thường gây bệnh nấm ở mô dưới da, nấm Sporothrix thường gây bệnh cho hệ bạch huyết, nấm Aspergillus, một loại nấm liên cầu thường gây bệnh cho hệ thần kinh .

Mối quan hệ giữa nấm và vật chủ: Sinh vật có nhiều cách phòng thủ cụ thể và không cụ thể chống lại nấm.

Cơ chế bảo vệ không đặc hiệu: tính toàn vẹn của da, màng nhầy, vi sinh vật phối hợp, tế bào thực bào …, ngoài sự tham gia của các globulin miễn dịch và bổ thể, cũng có thể hoạt động như opsonin. Những cơ chế này đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cơ thể khỏi các bệnh nấm cơ hội ít độc lực hơn.

Cơ chế phòng vệ cụ thể: Cả phản ứng tế bào và phản ứng dịch thể đều có liên quan, trong đó phản ứng tế bào đóng một vai trò quan trọng. Tế bào lympho T nhạy cảm làm phát sinh đại thực bào, tức là đại thực bào đã hoạt hóa, đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kháng nấm của cơ thể.

Nấm thường chỉ gây bệnh khi phản ứng miễn dịch của cơ thể bị gián đoạn. Loại và mức độ nghiêm trọng của các rối loạn đáp ứng miễn dịch xác định tính nhạy cảm và mức độ nghiêm trọng của bệnh. Hình thức của phản ứng miễn dịch cũng quyết định phản ứng của vật chủ và đôi khi có liên quan đến cơ chế bệnh sinh.

Khả năng gây bệnh của nấm phụ thuộc vào khả năng thích nghi với môi trường sống và chống lại các cơ chế tự vệ của cơ thể. Nói chung, sự phát triển của các bệnh nấm có liên quan mật thiết đến tình trạng miễn dịch của cơ thể và mức độ nhiễm nấm. Một số ít nấm có khả năng gây bệnh cho người bình thường do hệ thống men cụ thể (ví dụ nấm keratinase), khả năng thích ứng với nhiệt độ (các loại nấm khác nhau) hoặc khả năng ngăn chặn cơ chế hoạt động. Miễn dịch Tế bào Vật chủ. Nhiều loại nấm chỉ có thể gây bệnh cho những người có yếu tố nguy cơ, được gọi là bệnh cơ hội. Nấm cơ hội phổ biến rộng rãi và có độc lực cao. Hiện nay, tỷ lệ mắc các bệnh nấm cơ hội gia tăng đột biến, đặc biệt là bệnh nấm candida, bệnh cryptococcus, bệnh aspergillosis, bệnh zygomycosis, ngoài ra còn có bệnh nấm sợi hyalin và bệnh nấm sợi sẫm màu.

Các yếu tố nguy cơ gây bệnh nấm:

Sinh lý học: Trẻ sơ sinh và người cao tuổi dễ bị nhiễm nấm Candida miệng và những người đeo răng giả có tỷ lệ mắc bệnh nấm Candida ở miệng cao hơn. Trong 3 tháng trở lại đây, tỷ lệ mắc bệnh nấm Candida âm đạo ở phụ nữ mang thai cao gấp 3 – 4 lần phụ nữ bình thường. Một số người dễ mắc một số bệnh nấm do lý do nghề nghiệp hoặc lối sống, chẳng hạn như bệnh mycoplasmosis, bệnh histoplasmosis châu Phi, bệnh blastomycosis …

Bệnh lý: tại chỗ hoặc toàn thân.

Thuốc bôi: Tăng hydrat hóa, tổn thương mô … Ở người ăn cá, rửa bát làm tăng tỷ lệ nhiễm nấm móng Candida. Tổn thương phổi từ trước: Aspergillus.

Toàn thân: các bệnh làm giảm sức đề kháng, chẳng hạn như AIDS, khối u ác tính, ung thư …, rối loạn nội tiết: tiểu đường …

Ngoại sinh: Liệu pháp kháng sinh, thuốc ức chế miễn dịch dài hạn, đặt ống thông để mở lối vào cho nấm Candida, xâm lấn mạch Malassezia, phẫu thuật bụng để thúc đẩy sự phát triển của nấm Candida albicans, bỏng nặng dễ dẫn đến biến chứng Aspergillus. Nhiễm trùng bệnh viện: Candida và Aspergillus là nguyên nhân chính gây nhiễm nấm bệnh viện.

Phân loại bệnh nấm: Bệnh nấm thường được chia thành ba loại:

Các bệnh nấm bề ​​ngoài: lang ben, hắc lào ở lòng bàn tay, viêm tai ngoài do nấm, viêm giác mạc do nấm.

bệnh nấm da liễu).

Bệnh nấm hữu cơ (bệnh nấm toàn thân): nấm men, nấm sợi và nấm lưỡng hình.

Chẩn đoán bệnh nấm:

Chẩn đoán dựa trên các triệu chứng lâm sàng, dịch tễ học và xét nghiệm.

Lâm sàng:

Triệu chứng lâm sàng: Bệnh do nấm thường diễn biến chậm và mãn tính. Các triệu chứng của bệnh nấm nội tạng thường không điển hình và trong hầu hết các trường hợp, các triệu chứng lâm sàng là gợi ý.

Dịch tễ học:

Bệnh nhân có thể có các yếu tố dịch tễ học, chẳng hạn như tiếp xúc với bệnh nhân nấm.

Một số bệnh nấm liên quan đến tuổi tác, chẳng hạn như nấm Candida ở miệng và hầu họng, thường gặp ở trẻ sơ sinh và người lớn tuổi.

Xem Thêm : Glaucoma | Eye Consultants of Pennsylvania

Yếu tố nghề nghiệp: Nhiễm nấm Aspergillus phổ biến ở những công nhân làm việc ở nhà máy thấp …, Sporothrix schenckii phổ biến ở những người làm vườn …

Một số bệnh nấm đặc hữu: Bệnh do nấm Penicillium marneffei gây ra, chủ yếu ở Đông Nam Á.

Kiểm tra:

Xét nghiệm trực tiếp: có giá trị chẩn đoán định hướng, đôi khi mang tính quyết định (khi phát hiện túi Cryptococcus neoformans) và có giá trị hơn nuôi cấy trong chẩn đoán nhiễm nấm Candida … Tỷ lệ kết quả dương tính đối với xét nghiệm trực tiếp nói chung cao hơn nuôi cấy và nhanh kết quả (vài phút đến vài giờ) rất quan trọng trong những trường hợp nặng, đe dọa tính mạng cần được chẩn đoán sớm và điều trị ngay lập tức, chẳng hạn như viêm màng não do c.neoformans.

Potassium Hydroxide (koh): koh có tác dụng làm sạch mô, mảnh vụn tế bào (quá trình này chỉ mất 5-10 phút hoặc đun nóng diễn ra nhanh hơn) nhưng không ảnh hưởng đến nấm tế bào. Nhược điểm: Đôi khi koh phản ứng với mủ, đờm, lông tơ, tạo ra hình ảnh giống nấm và hình thành tinh thể. Đôi khi được nhuộm bằng mực Parker nhưng không phát hiện ra các sắc tố nấm.

Màu trắng calcofluor: Chất trắng calcofluor là một chất làm trắng được sử dụng trong ngành công nghiệp dệt và giấy, liên kết với β 1 – 3 hoặc β 1 – 4 polysaccharid (xenluloza, chitin) có trong thành tế bào nấm và chất huỳnh quang. .

mực nhuộm màu: Chủ yếu được sử dụng để phát hiện lớp vỏ của c.neoformans.

giemsa: chủ yếu phát hiện histoplasma capsularis trong máu hoặc tủy xương, nấm có màu xanh tím với quầng xung quanh.

Bệnh lý: Nhuộm hematoxylin thường chỉ có thể cho thấy rõ phản ứng của mô, rất khó phát hiện nấm, phương pháp nhuộm pas (periodate Schiff), grocott’s methylamine silver (gms) rất hữu ích để phát hiện nấm trong mô tốt.

Nuôi cấy: Có nhiều loại môi trường nuôi cấy nấm, thông dụng nhất là môi trường sabouraud, có thể là môi trường sabouraud có chứa kháng sinh và actidion, thường được nuôi cấy ở nhiệt độ phòng. Để phát hiện các dạng ký sinh của nấm lưỡng hình, sử dụng môi trường bhi (truyền tim não), trồng ở 370c. Tuy nhiên, một số loại nấm vẫn chưa được nuôi trồng cho đến nay, chẳng hạn như rhinosporidium seeberi. Việc nuôi cấy thường mất thời gian vì nấm phát triển chậm, nhưng có thể xác định được loại nấm.

Chẩn đoán huyết thanh: Kết quả nhanh chóng mà không cần kỹ thuật xâm lấn.

Xét nghiệm kháng thể: Thường không thích hợp để chẩn đoán các bệnh do Candida, Aspergillus và Cryptococcus, vì nấm cũng dương tính khi phát triển đơn lẻ và không gây bệnh, và âm tính khi chức năng miễn dịch bị dữ dội.

Phát hiện kháng nguyên: thường phát hiện các kháng nguyên thành tế bào như mannan, galactomannan, polysaccharide vỏ và protein hòa tan.

Động vật lây nhiễm: Thường lây nhiễm cho chuột, có giá trị chẩn đoán bệnh như bệnh do amip sơ sinh, … cho kết quả chậm nhưng chính xác.

Sinh học phân tử: Có nhiều nghiên cứu áp dụng sinh học phân tử để phát hiện các dna hạt nhân, ty thể hoặc RNA trong nấm, chẳng hạn như lai ghép, pcr (phản ứng chuỗi polymerase). Các kỹ thuật này có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, cho kết quả nhanh hơn nuôi cấy, đồng thời cho phép theo dõi đáp ứng điều trị đối với các bệnh do Candida, Cryptococcus, Aspergillus… mặc dù vẫn có dương tính giả.

(không phân biệt được nấm cộng sinh hay ký sinh, nguy cơ ô nhiễm môi trường) và âm tính giả (độ nhạy thấp khi phát hiện gen đơn bản sao). Ngoài ra, các kỹ thuật sinh học phân tử đòi hỏi thiết bị đắt tiền và nhân viên được đào tạo.

Phát hiện chất chuyển hóa của nấm: Một hướng mới trong chẩn đoán bệnh nấm là định lượng chất chuyển hóa của nấm cụ thể, chẳng hạn như d-arabitol trong chẩn đoán bệnh nấm candida, mannitol trong chẩn đoán bệnh do Aspergillus và Cryptococcus Chẩn đoán .. .

Điều trị.

Hiện nay, có rất nhiều loại thuốc có tác dụng kháng nấm được sử dụng để điều trị. Thuốc có thể có nguồn gốc thảo dược hoặc tổng hợp.

Thuốc có nguồn gốc từ thảo dược Việt Nam: lá trầu không, tỏi, nấm, chiết xuất hạt bìm bìm biếc, cẩu tích trắng, bã tinh dầu chàm, chít … Thuốc tổng hợp:

Thuốc polyene: Trong công thức phân tử của polyene có các liên kết đôi kỵ nước nối với ergosterol, tạo thành các kênh trong màng tế bào và tăng tính thấm của màng tế bào. Một số loại thuốc thường được sử dụng là amphotericin b, nystatin và natamycin.

Amphotericin b (Mushizon): được phân lập từ vi khuẩn lao Streptomyces. Được coi là một loại thuốc cần thiết để điều trị nấm nội tạng, nhưng có độc tính cao đối với thận, gần đây nó đã được cung cấp như một loại thuốc được bao bọc giữa hai lớp phospholipid hoặc tạo phức với lipid để giảm độc tính.

Nystatin : Được phân lập từ Streptomyces knowlesi. Thuốc chỉ có tác dụng chống nấm men, dung nạp tốt khi dùng tại chỗ, không dùng để điều trị nhiễm nấm toàn thân vì thuốc không tan trong nước, không được mô hấp thu, có độc tính cao khi tiêm.

Griseofulvin: Được sản xuất bởi Penicillium griseofulvin. Thuốc ức chế sự phân chia tế bào của nấm và phá vỡ cấu trúc và chức năng của vi ống.

Flucytosine (5-fluorocytosine): là một fluoropyrimidine dễ hòa tan trong nước.

Cơ chế hoạt động: Nấm mẫn cảm với thuốc chuyển hóa 5-fluorocytosine thành 5-fluorouracil, sau đó thành axit 5-fluorouracil, liên kết với RNA hoặc chuyển thành 5-fluorodeoxyuracil monophosphate có tác dụng ức chế. Đóng một vai trò quan trọng trong quá trình sinh tổng hợp DNA.

Phổ tác dụng: các loại nấm men như Candida, Cryptococcus và các loại thuốc có tác dụng hiệp đồng với amphotericin b. Khả năng chống chịu cao, ít khi sử dụng đơn lẻ.

azoles: bao gồm diazoles (imidazoles, ketoconazole chứa 2 nitrogens, miconazole, clotrimazole, econazole …) và triazoles (chứa 3 nitrogens: iconazole traconazole, fluconazole, voriconazole).

Cơ chế hoạt động: Thuốc liên kết với phần heme của cytochrome p450, phá hủy chức năng oxy hóa, ức chế 1,4α demethylase, phá vỡ sự tổng hợp ergosterol và gây tổn thương màng tế bào.

Tác dụng không mong muốn: Do cơ chế tác dụng với cytochrome p450 nên thuốc dễ tương tác với các thuốc khác, ngoài ra thuốc còn làm giảm sản xuất hormone steroid (tuyến thượng thận, hormone sinh dục) trong cơ thể, triazoles là tác dụng làm giảm hormone ít hơn biazoles, nhưng chúng đắt hơn.

Allylamine: chất ức chế squalene epoxidase, một loại enzyme quan trọng trong sinh tổng hợp ergosterol. Thuốc này có tác dụng diệt khuẩn và phân bố ở da, tóc và móng tay. Thuốc được dung nạp tốt và an toàn. Terbinafine và naftifine thường được sử dụng để điều trị bệnh lang ben.

Chất ức chế tổng hợp glucan (echinocandin): Chất ức chế tổng hợp β- (1,3) -d-glucan là một enzym tham gia vào quá trình tổng hợp glucan, một phần của thành tế bào nấm. Caspofungin hiện đã được phê duyệt. Thuốc có tác dụng phổ rộng, bao gồm nấm men (trừ Candida neoformans), nấm sợi và nấm lưỡng hình. Thuốc được dùng để điều trị bệnh nấm aspergillosis kháng thuốc hoặc bệnh nấm Candida toàn thân.

Phòng chống nấm bệnh.

Giảm nguồn bệnh: Chẩn đoán sớm, điều trị triệt để bệnh nhân và động vật …

Giảm các nguồn ô nhiễm nấm trong tự nhiên:

Tích cực vệ sinh môi trường, vệ sinh nơi ở, nơi làm việc.

Khử trùng các vật dụng của bệnh nhân (chăn, quần áo, khăn trải giường …) và thải bỏ chất thải của bệnh nhân theo quy định chung.

Bảo vệ Công lý:

Giữ lối sống hợp vệ sinh để ngăn ngừa nấm xâm nhập vào cơ thể, chẳng hạn như vệ sinh da, vệ sinh thực phẩm. Hạn chế tiếp xúc với động vật, đất, nước, cây cối … thực hiện các biện pháp bảo vệ như găng tay, ủng bảo hộ, khẩu trang …

Giảm các yếu tố nguy cơ: Khi dùng kháng sinh, corticoid, thuốc ức chế miễn dịch, điều trị y tế tốt, có chỉ định và theo dõi chặt chẽ. Phòng chống HIV / AIDS …

Tăng cường dinh dưỡng, vitamin nâng cao sức đề kháng cho cơ thể,

Thuốc trị nấm có thể được sử dụng trong một số trường hợp: trẻ sơ sinh, người đang dùng thuốc ức chế miễn dịch …

Phân loại nấm.

Phân loại: Phyla của nấm quan trọng về mặt y tế trong bốn loại:

Nấm tạo bào tử khớp (zygomycetes).

Tế bào sinh sản Ascomycetes.

Một lớp Basidiomycetes tạo ra Basidiomycetes.

Phân loại nấm không hoàn chỉnh (deuteromycetes hoặc “nấm không hoàn chỉnh”) bao gồm nấm không có nấm hoặc nang có bào tử hữu tính hoặc giai đoạn vô tính.

Do nguồn nhiễm nấm:

Một số loại nấm hoàn toàn thích nghi với đời sống ký sinh, và hầu hết các loại nấm gây bệnh đều sống hoại sinh. Nguồn lây nhiễm rất khác nhau và con người có thể nhiễm nấm từ đất, nước, không khí, thực vật, động vật hoặc nhiễm nấm bệnh, không có triệu chứng. Theo nguồn lây nhiễm, nó có thể được chia thành các loại sau:

Ectophytes: Nhiều loài nấm sống trong đất, trên thực vật, gây bệnh cho người, chẳng hạn như nấm da, phân đôi, độc tố nấm (madurella mycetomatis ..). Một số loại nấm ký sinh ngoài da như Aspergillus fumigatus, Aspergillus flavus, Fusarium, scopulariopsis …, nấm màu như Alternaria, Cladosporium, exophiala …

từng đám: Một số loại nấm có thể hoại sinh trên da người bình thường. Ví dụ: malassezia furfur (tỷ lệ người mang m.furfur có thể cao tới 100%).

Endophyte: Nấm sống trong xoang tự nhiên của con người và gây bệnh khi gặp điều kiện thuận lợi. Ví dụ: Candida albicans, Candida glabrata.

Vi nấm hoại sinh (endo-exosaprophytes): là loại nấm có thể sống hoại sinh ở ngoại cảnh và có thể sống trong xoang tự nhiên của người và động vật. Ví dụ, Cryptococcus neoformans có thể sống trong diều chim bồ câu hoặc phân chim. Một số loài Candida (c.tropicalis, c.pseudotropicalis, c.krusei …) là nấm sống hoại sinh ở người và động vật và có thể phân lập được ở ngoại cảnh (đất, hoa quả, ngũ cốc …).

Nấm ký sinh: Một số loại nấm thích nghi với đời sống hoàn toàn ký sinh trong cơ thể người như Microporus, Trichophyton purpura, t.soudanense, t.rubrum … và lây lan từ người này sang người khác. Các loại nấm này khi tồn tại trong đất cũng phụ thuộc vào các chất dinh dưỡng có nguồn gốc từ con người (vảy da, lông, lông… rụng).

Nguồn: https://xettuyentrungcap.edu.vn
Danh mục: Hỏi Đáp

Vậy là đến đây bài viết về Đại cương nấm y học đã dừng lại rồi. Hy vọng bạn luôn theo dõi và đọc những bài viết hay của chúng tôi trên website Xettuyentrungcap.edu.vn

Chúc các bạn luôn gặt hái nhiều thành công trong cuộc sống!

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button