Hỏi Đáp

Phân tích khổ 2 Đây thôn Vĩ Dạ – Doctailieu.com

đây thôn vĩ dạ khổ 2

Văn bản Phân tích đoạn 2 Đây thôn Vĩ Dạ Tác giả: Hàn Mặc Tử Đồ Bài thơ 2: Đây thôn Vĩ Dạ.

hướng dẫn phân tích mục 2 đây thôn Vĩ Dạ

1. Phân tích chủ đề

– Yêu cầu Đề bài: Phân tích nội dung và nghệ thuật của đoạn thứ hai làng này vi da

– Mức độ tư liệu: Những chi tiết, hình ảnh được nhắc đến trong khổ thơ thứ hai của bài thơ “Làng Vida” của Mike Hen.

– Phương pháp lập luận chủ yếu: phân tích.

2. Điểm chính của phần 2 ở đây là thôn Vĩ Dạ

Trong nội dung phân tích của mục thứ hai, thôn Vĩ Dạ, các bạn cần chú ý bám sát vào hai điểm quan trọng nhất:

– Bài 1: Hình ảnh dòng sông ủ rũ

– Luận điểm 2: Cảm xúc của nhân vật trữ tình trước dòng đời đau thương và nỗi xót xa chia ly.

* Xem thêm bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử để có thể nhận biết chất giấy dễ dàng hơn.

Dàn ý chi tiết của bài văn phân tích ở mục 2 Đây là Làng Vida

1. Phân tích mở bài Đây thôn vi đà khổ 2

– Vài nét về tác giả Hàn Kết Đồ và tác phẩm “Đây là làng Weida”

– dẫn đến khổ thơ thứ hai của bài thơ thôn này vi đà

Ví dụ:

Hàn Mộ Tử là một trong những gương mặt độc đáo của Phong trào thơ mới. Thơ Hàn Kết Đồ là tiếng nói của một tâm hồn yêu đời, yêu sông núi, yêu đồng bào. Bài thơ “Làng này người Vida” là một tác phẩm chứa đựng tình yêu và khát khao sống như thế. Đặc biệt ở khổ thơ thứ hai gợi cho người ta một nỗi nhớ nhung da diết của nhà thơ.

2. Phân tích cơ thể Phần 2 Đây là Làng Vida

Đề 1:Khổ thơ thứ hai của bài thơ Đây Làng Vầu là một bức tranh sông nước đầy ước lệ nghệ thuật

+ “gió” và “mây” dùng phép điệp ngữ để phân biệt cảnh vật trong môi trường tự nhiên. -> Chỗ trống ở câu này rộng hơn ở đoạn 1.

+ Gió đi theo gió, mây đi theo mây, gió và mây không thể tách rời mà tưởng như xa cách =>; tâm trạng buồn, cảm giác chia lìa, đứt đoạn, cô đơn.

+ Hình ảnh nhân cách hóa dòng nước buồn và động từ “đẻ” gợi những cảm xúc kèm theo. -> Dòng sông như đứng lại không muốn chảy nữa thể hiện tâm trạng buồn man mác.

=>Ngay cả khi bạn yêu cuộc sống và thiên nhiên, bạn không thể phủ nhận rằng bạn sẽ không bao giờ quay trở lại cuộc sống tuyệt vời đó.

Luận cứ 2: Cảm xúc chia li của nhân vật trữ tình trước dòng chảy của nỗi buồn.

+ Cái tôi ở câu 2 dường như bị lãng quên, bị bỏ rơi giữa cuộc đời một cách đáng thương. Cái tôi ấy khao khát tình yêu, khao khát sống và phải gánh chịu bi kịch.

+ Chuyue River: tràn ngập ánh trăng, mộng và thực, hư ảo khó phân biệt

+ “ai” là một đại từ tán tỉnh chỉ được sử dụng với các câu hỏi tu từ nhấn mạnh sự không chắc chắn và mơ hồ.

+ “Ánh trăng” là tâm sự, là niềm tin, là điểm tựa, là niềm mong được thấu hiểu, là cầu nối để nhà thơ trở về với cuộc sống thực tại.

+ “Kịp thời” vừa là mong đợi, vừa là lo lắng

Đêm nay có chở trăng về được không?

->Tác giả lo lắng rằng thời gian còn lại quá ít và niềm khát khao sống, tình yêu thiên nhiên, cuộc sống vẫn cháy bỏng.

Xem Thêm : Đừng chủ quan khi có triệu chứng khó thở, mệt mỏi | Medlatec

=>Lời bài hát mang nặng nỗi buồn, nỗi buồn cô đơn, tội lỗi, hối hận, lo lắng, mong chờ…

3. Kết luận phân tích ở đây là vi da đau 2

– Khẳng định lại giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn này trong toàn bài thơ. Ngôi làng này là Vader.

Ví dụ:

Trong đoạn hai bài “Làng này Vida” của Han Mektu, ta có thể cảm nhận được những suy tư của nhà thơ từ cảnh sắc thiên nhiên xứ Huế. Những tình cảm ấy tuy chỉ là của riêng tác giả nhưng đã tác động, tạo nên dư âm sâu rộng và lâu bền trong lòng người đọc. Chỉ có bốn câu thơ ngắn gọn nhưng chứa đựng tất cả những gì tinh tuý nhất của xứ Huế, tình yêu của tác giả dành cho Huế, đặc biệt là đối với cảnh đẹp về đêm.

4. Phân tích sơ đồ tư duy Tiết 2 bài Đây thôn vi đà

Xem thêm các mẫu sơ đồ tư duy tham khảo tại đây thuộc các loại chủ đề khác nhau

Phân tích ba đoạn hay đầu trong khổ thơ thứ hai của bài thơ Đây là thôn Vĩ Dạ

Dưới đây là 3 bài văn mẫu phân tích tiết 2. Đó là bản hay tham khảo qua các tài liệu được sưu tầm và tổng hợp gửi đến các bạn để làm nguồn tham khảo trước khi viết bài.

phân tích phần 2 đây là mô hình vi đà 1

Han Mi-ja là một nhà thơ tài năng nhưng cuộc đời cô không được may mắn. Khi mất, ông để lại một kho tàng thơ văn đồ sộ. Đây là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông kể về ngôi làng vi vu, nơi có người đàn ông ông yêu. Trong đó, đoạn hai “Làng Ngụy” cho ta thấy vẻ đẹp thơ mộng của làng Ngụy, đồng thời bộc lộ tâm trạng buồn, trăn trở của nhà thơ.

Ở khổ thơ đầu, người đọc cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống, cũng như vẻ đẹp tâm hồn mà nhà thơ vẫn yêu đời, yêu cuộc sống dù cuộc đời khốn khó. Mở đầu đoạn hai khiến người đọc nhớ đến cảnh Giang Nguyệt về đêm, kèm theo đó là sự xao xuyến, rạo rực của nhà thơ.

“Gió theo gió, mây theo mây

Suối buồn, bông ngô đung đưa”

Có nhiều cách lý giải về dòng sông này, nhưng dù sao đi nữa, nó vẫn gợi lên ý nghĩa của sông Hương – linh hồn của xứ Huế. Cách tả cảnh rất nhẹ nhàng, tĩnh lặng gợi lên nét riêng của Huế: gió khẽ lay, mây bay nhè nhẹ, hoa ngô đồng khẽ đung đưa, động tác rất nhẹ nhàng uyển chuyển, gợi lên một khung cảnh rất yên bình, Không gian yên bình. Cảnh buồn: buồn man mác, buồn sâu lắng, buồn với không gian, cảnh vật, buồn thường từ ngoại cảnh. Những đường nét như kéo dài, kéo dài khiến nỗi buồn tưởng như vô tận.

Tác giả sử dụng thủ pháp nghệ thuật “nhân cách hóa”, dòng sông trở thành một hiện hữu có tâm trạng, tâm hồn, tình cảm của con người. Cảnh vật như mang màu chia ly của “gió theo gió, mây theo mây”. Câu thơ này chia nhịp 4/3 thành hai nửa: một gió và một mây. Câu đầu lặp lại từ “gió” phác họa một thế giới chỉ toàn gió, chỉ có gió, chỉ có gió. Từ “mây” ở vế thứ hai tạo ra một thế giới mây khép kín chỉ có mây. Thế là hai thứ trước đây chỉ liên quan đến nhau giờ lại bị tách rời, tách rời.

Gió ẩn trong gió, mây ẩn trong mây. Bài thơ đưa ra một hiện thực phi lí về hiện thực khách quan, nhưng lại rất hợp lí về hiện thực tình cảm. Nhà thơ sống tách biệt, cách biệt, giữa cuộc đời đầy nghịch lý nên gió mây dâng trào. Từ lay trong ca dao mang ý nghĩa buồn bã, chỉ là một động tác lay động rất nhẹ khi gió thoảng qua. Nó mang cái buồn truyền thống của dân ca và thổi vào con người nỗi buồn muôn thuở.

Qua hai câu thơ sau, ta thấy được tâm trạng bồn chồn của nhà thơ:

“Thuyền ai đậu trên sông Trăng

Đêm nay có thể đưa trăng về quá khứ”

Cảnh gợi những cách lung linh, huyền ảo, ánh trăng vừa thực vừa ảo. “Sông trăng” có thể hiểu là dòng sông đầy ánh trăng, hoặc cũng có thể hiểu là trăng chảy thành dòng. “Nhạc Châu” là thuyền chở đầy trăng, cũng có thể hiểu là hình ảnh trăng như thuyền. Dù bằng cách nào, mặt trăng lấp đầy toàn bộ không gian, thực hoặc ảo, tạo cảm giác mơ hồ. Trong thơ Hàn Mộc Đồ có trăng tròn, để có một thế giới ba tiếng, chất chứa cảm xúc, xoa dịu nỗi đau, trăng là người bạn tâm hồn của Hàn Mộc Đồ.

“ai thuyền” biểu thị một danh từ tầm thường. Hai câu thơ này chứa đựng hai hình ảnh trái ngược nhau. Câu tiếp theo không có trăng, có hương thơ là điều phi lý trong thực tế nhưng có thể cắt nghĩa theo quan niệm nghệ thuật của chủ thể trữ tình. Trăng có khi không, mong manh mơ hồ, người tri kỷ cũng mơ hồ, mong manh nên họ sẽ băn khoăn, bâng khuâng. Chờ trăng là chờ sự thấu hiểu lẫn nhau, chờ sự đồng điệu, chờ sẻ chia, chờ khát vọng, đồng cảm với cuộc đời và là một con người bình thường cũng cần được cảm thông.

Từ “kịp” thể hiện sự lo lắng, chờ đợi, mong mỏi của nhà thơ. Điều này cho thấy quỹ sống đang cạn dần từng ngày và sự chia tay vĩnh viễn có thể đến bất cứ lúc nào. Với một người bình thường, nếu đêm nay không về thì còn nhiều đêm nữa, nhưng với Hàn Kết, đêm nay thuyền không về, nếu không có sự đồng cảm, nhà thơ sẽ ra đi mãi mãi trong đau thương.

Tình khúc sông nước 2 thôn Weida cho ta thấy nỗi nhớ của tác giả đối với Giang Kinh Dạ Nguyệt, đồng thời cũng cảm nhận được nội tâm băn khoăn, bất an của nhà thơ. Tác giả cũng chờ đợi sự cảm thông, sẻ chia để xoa dịu nỗi đau trên hành trình sang thế giới bên kia. Đây là nỗi ân hận trong bi kịch của cuộc đời nhà thơ tài hoa nhưng bất hạnh.

phân tích phần 2 đây là vi đà mô hình 2

Hàn Motu là một trong những nhà thơ sáng tạo nhất trong Phong trào thơ mới. Tuy cuộc đời lận đận nhưng ông đã để lại cho đời nhiều tác phẩm giá trị. Đây làng Vida được viết năm 1938 và nằm trong tập thơ “Cuồng”, là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của ông. Bài thơ lấy cảm hứng từ mối tình của cô gái Hoàng Thị Kim Cúc, người con gái ở Vĩ Dạ, một làng nhỏ bên dòng sông Hương, quê hương xứ Huế thơ mộng, trữ tình. Đoạn thứ hai của bài thơ thể hiện sự băn khoăn, lo lắng của nhà thơ qua việc miêu tả vẻ đẹp thơ mộng của mây trời, sông nước.

Nếu như khổ thơ đầu nhà thơ tập trung miêu tả cảnh sắc khu vườn và con người tươi đẹp dưới ánh nắng ban mai thì ở khổ thơ thứ hai nhà thơ lại tập trung miêu tả cảnh đẹp thôn quê bên dòng sông Hương. Nỗi buồn mênh mang Sông Hương là một vẻ đẹp ở Huế, không chỉ đẹp ngoài đời thực mà còn nổi tiếng trong những bài thơ viết về cố đô. Giờ đây, sông Hương cũng đã đi vào thơ Hàn Mộng Đồ, mang theo những câu thơ mang hồn thơ của chính nhà thơ.

“Gió cuốn theo chiều gió”

Nếu như ở khổ thơ đầu hình ảnh một khu vườn xinh đẹp dưới ánh nắng ban mai tràn đầy sức sống thì ở khổ thơ này, khung cảnh bỗng biến thành một màn đêm u tối với những mảng màu rời rạc. Cảnh trời mây, sông nước xứ Huế cân đối hài hòa giữa “gió” và “mây”, “nước” và “hoa ngô đồng” thật nên thơ trữ tình nhưng khi ra về lòng ta vẫn bùi ngùi.

Giao tiếp Gió và mây không thể tách rời: “Gió thổi mây, gió thổi mây” Gió thổi mây cùng chiều. Nhưng ở đây gió theo gió, mây theo mây, gió thổi bên này mây bay bên kia, gió và mây đối lập và không tương thích. Dấu phẩy đặt giữa dòng với nhịp 4/3 của khổ thơ như một dấu ngăn cách gay gắt, càng làm cho sự chia li của gió và mây thêm mãnh liệt. Chỉ trong một câu thơ, hình ảnh Phong Vân lại hiện lên nhưng không tạo nên nỗi nhớ nhung da cam mà con người đậm hơn sự chia ly. Vì vậy, ở câu thơ này, ta thấy cái phi lý của hiện tượng khách quan, nhưng lại thấy cái logic của nghệ thuật. Vì trong cảnh éo le nhà thơ thấy chia ly xen lẫn không thể chia lìa, và hình ảnh ở đây là những gì nhà thơ cảm nhận qua tâm trạng xót xa, chia ly.

Ở khổ thơ thứ hai, cảnh cũng buồn vì được cảm nhận qua tâm trạng buồn của nhà thơ:

Xem Thêm : Thanh niên – Xuân Diệu – tao đàn

“Dòng hoa ngô buồn”

Tác giả đã khéo léo sử dụng biện pháp nhân hóa khiến dòng sông có cảm xúc, đồng thời cũng chứa đựng tâm trạng, nỗi niềm “sầu”-một nỗi buồn nhẹ nhàng mà sâu lắng, chất chứa sự chán chường. Hình ảnh bông ngô đồng “nằm” nhẹ nhàng gợi lên một sức sống nhỏ bé, yếu ớt, bài thơ không tả gió nhưng ta vẫn thấy gió lặng lẽ mặc kệ dòng nước lay động, đung đưa những bông ngô đồng đủ sắc màu. Sầu đâu, oải hương hay vàng nhạt.

Và nếu như phần một tràn đầy sức sống, con người và thiên nhiên chung sống hòa hợp thì khung cảnh ở phần hai lại cho ta ấn tượng về sự chia cắt, buồn bã, mục nát và cô đơn. bức ảnh? Cảnh? Trong sa mạc buồn hiu quạnh phía xa, nhà thơ háo hức mong chờ một vầng trăng sáng, cảnh thiên nhiên, đất trời và dòng sông càng thơ mộng, đẹp như tranh vẽ trong những vần thơ trăng rằm. ..

“Thuyền ai đậu trên sông Trăng

Có thể mang mặt trăng trở lại đêm nay”

Cả không gian tràn ngập ánh trăng, dòng sông trăng, bến trăng, con thuyền chở trăng Ta đã từng thấy hình ảnh con thuyền chở trăng trong nhiều tác phẩm của các nhà thơ. Trong bài thơ “Rằm tháng Giêng” Bác đã nói: “Trăng tròn con đò về khuya”, và vẽ hình ảnh “Bến sông trăng” là một sáng tạo nghệ thuật mới tài tình. , chính Hàn Đại đã chết. Nhà thơ đang nghĩ, liệu đêm nay con thuyền chở trăng ở bến sông Trăng có đưa trăng về kịp không? “Về” là về đây, về nơi tăm tối mà nhà thơ đang chờ đợi.

Trong hoàn cảnh bị bạo bệnh phải sống cách biệt với thế giới bên ngoài, chiếc nôi của nhà thơ là một hoang vắng hiu quạnh nên nhà thơ muốn đợi trăng trong nỗi nhớ. Có thể thấy, trăng trong thơ Hàn Kết Đồ không chỉ là hình ảnh đẹp của thiên nhiên, là người bạn tâm giao mà còn là bến bờ hạnh phúc mà nhà thơ hằng khao khát.

Tiếc thay, niềm khao khát cháy bỏng ấy trở nên mơ hồ, mong manh, thậm chí xa vời vì nhà thơ đã thêm đại từ tầm thường “ai” vào câu hỏi tu từ trong “thuyền ai”, chỉ một con thuyền cố định. Không những thế, giọng thơ khắc khoải còn đi kèm với thành ngữ “vừa kịp đêm nay” hàm ý quan niệm thời gian vô cùng gấp gáp khiến nhà thơ trăn trở: Mình có kịp đợi không? Bởi vì, đối với người bình thường, đêm nay, đêm mai, đêm nay, ngày này, ngày này, một ngày, một tháng nữa thuyền sẽ không đuổi kịp mặt trăng, nhưng đối với Hàn Kết Đồ thì không còn như vậy nữa. . Nếu “con tàu” không “chở trăng về quá khứ” thì có thể nhà thơ sẽ mãi mãi ra đi trong tiếc nuối, xót xa. Tác giả háo hức chạy đua với thời gian, vì thời gian để tồn tại ngày càng ngắn lại. Bài thơ nói lên cảnh cơ hàn, dự cảm về mất mát, nhớ nhung.

Chỉ có ở trong hoàn cảnh độc nhất vô nhị của Han Mektu, chúng ta mới thấu hiểu hết nỗi đau về thân phận, số phận của nhà thơ trẻ tài hoa này. Dù bị cuộc đời ruồng bỏ một cách phũ phàng, dù đắm mình trong đau khổ, bất hạnh trong thế giới đen tối, nhà thơ vẫn thiết tha bám lấy cuộc đời, luôn hướng về ánh sáng, hướng về cõi nhân gian cao cả, tươi đẹp.

Phân tích “Đây thôn Vida” ở khổ thơ thứ hai của bài thơ, ta thấy như có một tảng đá nặng đè nặng lên lòng người đọc. Ta dường như có thể cảm nhận được nỗi nhớ nhung đời thường và nỗi buồn, ưu tư của nhà thơ. Trong cảnh cô đơn ấy, con người này vẫn có một tình yêu mãnh liệt mong muốn cuộc sống tốt đẹp hơn và khát khao được giao tiếp với cuộc đời. Tuy nhiên, phản ứng của nhà thơ không gì khác ngoài sự cô đơn và buồn bã. Đây là bi kịch cuộc đời của người nghệ sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh.

>>> Phân tích hai khổ thơ đầu của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ là một trong những dạng đề thường gặp trong các đề thi cuối kì học sinh lớp 11.

phân tích phần 2 đây là vi đà mô hình 3

Hàn Mot Tu, một trong những nhà thơ sáng tạo nhất trong phong trào Thơ Mới, thơ ông luôn phảng phất một nỗi buồn. Tác phẩm nổi tiếng nhất của Han Mektu là “Ngôi làng này là Vader” được in trong bài thơ “Nỗi đau”. Đoạn thơ này là một bức tranh phong cảnh làng quê tươi đẹp, đồng thời cũng là một bức tranh ước lệ nghệ thuật, chất chứa nhiều tâm trạng, cảm xúc, tâm sự của nhân vật trữ tình, đặc biệt là khổ thơ thứ hai, nơi vẻ đẹp của thiên nhiên và tấm lòng người con đan xen vào nhau.

“Gió theo gió, mây theo mây

Dòng hoa ngô đồng buồn

Thuyền ai đậu trên sông trăng kia

Đêm nay có chở trăng về được không? “

Ở khổ thơ này, có thể nói, Hàn Mật đã hướng sự chú ý của mình đến dòng sông Hương, là hình ảnh liên quan đến thôn Vĩ Dạ, dòng sông Hương hiện lên một cách êm đềm, trầm tư và thơ mộng. Tình yêu, nhân vật trữ tình hay tác giả nhìn dòng sông với rất nhiều suy nghĩ trong lòng. Hai dòng đầu của bài thơ được tác giả viết tả vẻ đẹp trầm mặc, dịu dàng của xứ Huế:

“Gió theo gió, mây theo mây

Suối buồn, hoa ngô đồng rơi”

Mọi cảnh vật như chậm lại: gió thoảng hiu hiu, mây nước bồng bềnh, bông ngô đồng khẽ đung đưa, nhà thơ đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nhân hoá để nhân hoá gió, mây, nước qua quan niệm nghệ thuật. Và giữa đó cũng có sự liên hệ, kết nối với nhau: có gió có mây bay, có gió, sông có sóng, chúng thường song hành với nhau làm cho cảnh vật thêm sinh động, nhưng ở đây mây và gió lại tách rời nhau. , và mỗi bên gió và mây lại có cách riêng để tạo nên sự ngăn cách. Ít mây ít gió, mà mây gió không cùng nhau nên sông cũng “buồn” cây cối khẽ lay động, cảnh vật trở nên vô hồn, cảnh đẹp mà quạnh hiu, lặng lẽ và buồn bã. Hai câu thơ sau diễn tả rất rõ tâm trạng của người trữ tình hay của chính nhà thơ:

“Thuyền ai dừng bến sông Trăng

Đêm nay có chở trăng về được không? “

Mặc dù tâm trạng buồn bã, cô đơn nhưng trái tim tác giả vẫn tràn đầy tình yêu thiên nhiên và con người xứ Huế.Trong con mắt của trái tim nhà thơ, dòng sông không còn là dòng sông.Thường có nước chảy mà thôi nó đã trở thành một “dòng sông trăng”, ánh trăng vàng rực rỡ trên nền trời, cảnh càng thêm mơ màng, thơ mộng. Con đò thực trên sông cũng biến thành con đò nhỏ neo đậu ở bến sông Trăng chở trăng về một bến đò nào đó trong giấc mơ của nhà thơ.

Câu hỏi tu từ “Có chở trăng về kịp không?” cho thấy tác giả đang nôn nóng, chờ đợi, mong mỏi đêm nay con tàu chở trăng về chứ không phải một đêm nào khác phải không? “Đêm nay” đó là một đêm rất buồn, cô đơn, nhà thơ muốn nói chuyện với trăng, và chỉ có trăng mới hiểu được lòng nhà thơ. Ngắm trăng cũng cho thấy Han Mektu yêu trăng, cũng như cảnh vật và con người xứ Huế, nhưng chàng không hiểu hai điều ấy, không đáp lại tình yêu của nhà thơ. Niềm khao khát trăng sáng của nhà thơ cũng giống như niềm khao khát gặp được người yêu chân thành, thầm kín nhưng lại là sự chờ đợi khắc khoải, không nguôi.

Trong khổ thơ thứ hai của bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Han Mektu, ta có thể cảm nhận được những suy nghĩ của nhà thơ từ những bức tranh thiên nhiên xứ Huế, mặc dù những cảm xúc đó chỉ là của riêng ông. Ảnh hưởng của tác giả sâu rộng, tầm ảnh hưởng lan rộng và có âm hưởng lâu bền trong lòng người đọc. Chỉ có bốn câu thơ ngắn gọn nhưng chứa đựng tất cả những gì tinh tuý nhất của xứ Huế, tình yêu của tác giả dành cho Huế, đặc biệt là đối với cảnh đẹp về đêm.

_/_

Vừa rồi là một số hướng dẫn làm bài phân tích phần 2 Làng Vida do doctailieu tổng hợp chi tiết, hi vọng có thể giúp các bạn có thêm tài liệu tham khảo hữu ích để dễ dàng phân tích. Chúc may mắn với các nghiên cứu của bạn!

Nguồn: https://xettuyentrungcap.edu.vn
Danh mục: Hỏi Đáp

Related Articles

Back to top button