Hỏi Đáp

19 dàn ý phân tích câu thơ lặn lội thân cò khi quãng vắng thâm thúy

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Đề cương số 1

Tôi. Mở bài đăng

– Đôi nét về tác giả Trần Thị Bổn: một nhà Nho tuy cuộc đời ngắn ngủi.

– Yêu vợ là một trong những bài thơ hay và cảm động nhất mà Dupont viết về bà.

Hai. Nội dung bài đăng

1. Hai câu chủ đề

– Hoàn cảnh của bà: Gánh nặng gia đình, quanh năm bà bơi lội trong “dòng sông mẹ”.

+Thời gian “quanh năm”: năm này qua năm khác không trừ một ai, làm việc liên tục.

+ Vị trí “Sông mẹ”: Thế đất nhô ra phía lòng sông không ổn định.

⇒ Công việc và hoàn cảnh kinh doanh vất vả, thăng trầm, thất thường.

– Lý do:

+“nâng cao”: chăm sóc kỹ lưỡng

<3

⇒ Phụ nữ tự chăm sóc con cái là chuyện bình thường, nhưng ngoài ra, phụ nữ còn phải chăm sóc chồng ⇒ Tình hình thật thất thường.

+ Với cách dùng độc đáo con số “một chồng” bằng “năm con”, ông thừa nhận mình cũng là một đứa trẻ đặc biệt. Kết hợp biện pháp 4/3 để diễn tả sự vất vả của người vợ.

⇒ Bà Tú là người có trách nhiệm, hết lòng vì chồng con.

2. Hai câu thực

-Con cò lội nước vắng: Mang ý nghĩa của câu ca dao “Con cò lội theo bờ”, nhưng sáng tạo hơn (cách đảo ngược con cò từ dưới nước lên đầu hoặc thay thân cò bằng con cò) :

+“游”: khổ, lao, đắng, lo

+ Hình ảnh “thân cò”: Gợi nỗi vất vả, hiu quạnh của phận làm ăn ⇒ Diễn tả nỗi đau thân phận, khái quát.

+ “vắng”: thời gian, không gian rợn ngợp, đầy nguy hiểm khắc khoải.

⇒ Nỗi vất vả của người bà càng được nhấn mạnh qua nghệ thuật ẩn dụ.

– “Ối…đò đông”: Gợi cảnh xô đẩy, xô đẩy, tranh giành, nơi bấp bênh

+ Thuyền đông người: Đông người xô đẩy, xô đẩy cũng đầy hiểm nguy, lo lắng.

– Nghệ thuật đảo ngữ, tương phản, hoán dụ, ẩn dụ, được tạo nên từ những hình ảnh dân gian nhằm nhấn mạnh sự vất vả của người bà.

⇒ Cảnh đời thực của bà Tú: Thời gian và không gian thật đáng sợ và nguy hiểm, đồng thời cho thấy sự dịu dàng và ân cần của ông Tú.

Xem Thêm : Soạn bài Làng siêu ngắn | Ngữ văn lớp 9 – VietJack.com

3. Hai bài báo

<3

– “Chuẩn bị cho một ngày mưa”: Làm việc chăm chỉ

-“năm”, “mười”: tính từ số nhiều

– “Dĩ hòa vi quý”: Sự hy sinh thầm lặng cao cả cho chồng con hội tụ ở sự cần cù, dũng cảm, nhẫn nại.

⇒ Đoạn thơ vận dụng một cách sáng tạo các thành ngữ, dùng từ láy để thể hiện đức tính cần cù, chịu khó, tận tụy với chồng.

4. Hai kết luận

– Không hài lòng với thực tại, Tubang mắng vợ:

+“Cha mẹ tóc bạc”: tố cáo xã hội hiện thực quá bất công, áp bức phụ nữ, khiến phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi.

– Tự nhận thức:

<3

– Thừa nhận mình có khuyết điểm, muốn chung sống với vợ, để vợ chăm sóc con và chồng.

→ Từ tình yêu dành cho vợ đến thái độ đối với xã hội, Tubang cũng mắng mỏ thói quen sinh hoạt của Heiyin.

Ba. kết thúc

– Nhắc lại những nét nghệ thuật tiêu biểu làm nên thành công của nội dung.

– Hãy liên hệ để bày tỏ quan điểm, suy nghĩ của bạn về người phụ nữ trong xã hội ngày nay.

Đề cương #2

Tôi. Mở bài đăng

Vì vậy, có lúc chị đã hóa thân: “Thân cò”, nơi biển động, nơi hoang vắng, gợi lên nỗi đau thân phận:

Liệu con cò lặn lội

Hãy xuống nước sớm vào mùa đông.

Hai. Nội dung bài đăng

Câu thứ ba, nghệ thuật ẩn dụ gợi liên tưởng đến hình ảnh con cò trong ca dao:

Con cò bơi bên sông

Khóc cho chồng

(tiếng lóng)

Ba. kết thúc

Bà Tú chắc chắn không khóc như người đàn bà trong ca dao khác, nhưng ai dám bảo là bà không khóc trong lòng, trong nỗi “tiếc hùi hụi” trên “đò đông người”? Thân phận bà Tú như thân phận con cò nơi đất hoang mang đến sự ảm đạm, vất vả, lẻ loi, trên tàu có nhiều người mặc cả, đồ hiếm giá càng đắt.

Xem Thêm : Bác Hồ tên thật là gì? Tên thật của Bác Hồ là gì?

Đề cương số 3

Tôi. Mở bài đăng

Hình ảnh những chú chim hiền lành, chăm chỉ, lặng lẽ kiếm ăn bên bờ ruộng đã trở thành biểu tượng cho tấm lòng tần tảo vì chồng con của người phụ nữ. Hãy nghĩ về bản thân bạn.

Hai. Nội dung bài đăng

Trong thơ con cò không phải thân cò mà thân cò. Nó không còn là một con vật cụ thể, mà là một số phận, một số phận, một cái gì đó rất mong manh, nhỏ bé trước vũ điệu của biết bao mảnh đời (tội nghiệp con rùa/ thân em như cá hồng/ thân em như hạt mưa sa… ). Quá yếu đuối, quá thụ động nhưng luôn vùng vẫy. Lội qua nước lúc trống, thuyền đông người, không sao chịu nổi. Hai tính từ đứng đối diện nhau ở đầu hai câu vừa có nghĩa bóng, vừa có tính biểu cảm. Có một người phụ nữ gầy như con hạc một mình đi trên con đường lầy lội với gánh nặng trên vai. Hàng về rồi em ra ngoài tránh gió mưa mất tiền. Vẫn là thân cò nên nó phải phồng lông xù cánh, tranh cãi không dứt tranh mua bán, cố hết sức cho kịp thuyền, cho kịp chợ.

Ba. kết thúc

Người ta đổ mồ hôi nhiều nơi, rơi nước mắt nhiều nơi.

Đề cương số 4

Tôi. Mở bài đăng

Phần thực làm nổi bật chân dung bà Tú sáng sớm chiều tối “bơi lội” làm ăn như một “cò hương” nơi “chốn xa”.

Hai. Nội dung bài đăng

Ngôn ngữ thơ tăng thêm, làm nổi bật nỗi vất vả của người vợ. Các từ như nét, trường màu nối tiếp nhau, bổ sung cho nhau, cũng “lặn vào” “thân cò” và “lặn vào” “vắng”. Nỗi vất vả mưu sinh ở “Dòng sông mẹ” dường như không sao kể xiết! Hình ảnh “con cò” trong ca dao cổ: “Con cò lặn lội bờ sông…”, “Con cò đi hứng mưa…”, “Con cò, chiếc kiềng, giàn …”.Tái bản từ những vần thơ xương máu của ngôn ngữ địa phương qua “thân cò” Hình ảnh ấy mang đến cho người đọc nhiều liên tưởng cảm động về Batu, cũng như thân phận vất vả, éo le của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội cũ:

“Bị nuốt chửng trong vùng hoang dã

Buổi sáng mùa đông bên dòng nước”

“eo sèo” là từ tượng thanh chỉ sự đòi hỏi, quấy phá liên miên: diễn tả cảnh tranh mua tranh bán, cảnh cãi vã trên “nước” khi “đò chật thuyền”. Một đời “bơi”, một đời “nghèo” kinh doanh. Nghệ thuật đặc sắc làm nổi bật hình ảnh cảnh nghèo đói cùng cực. Với bát cơm manh áo, bà “một chồng nuôi năm đứa con”. “Bơi” trong gió và mưa, phải tranh giành “eo” trong những năm khó khăn, và trả giá bằng mồ hôi và nước mắt trong những năm khó khăn!

Ba. kết thúc

Trong hai tiểu luận dưới đây, DuPont đã vận dụng một cách sáng tạo hai thành ngữ “một duyên hai nợ” và “năm mưa mười” hài hòa, cân xứng và mang đậm màu sắc dân gian trong cảm nhận. Ngôn ngữ thể hiện:

Đề cương số 5

Tôi. Mở bài đăng

Đắm chìm trong nỗi vất vả, khổ cực của vợ, Du Pont mượn hình ảnh con cò trong ca dao để miêu tả người vợ của mình. Tuy nhiên, hình ảnh con cò trong ca dao đã đầy đáng thương, nhưng hình ảnh con cò trong thơ Du Pont còn đáng thương hơn. Con cò trong thơ Tupen không chỉ là nỗi kinh hoàng về không gian (như con cò trong ca dao) mà còn là nỗi kinh hoàng về thời gian. Chỉ ba chữ thôi, khi không có tác giả, tác giả có thể kể lại cả một thời gian, không gian này thật hấp dẫn, thật đáng sợ, một thời gian đầy bất an và rùng rợn, đã đánh mất cả chất thơ. So với ca dao: cò lặn lội bờ sông, thơ của Tú Peng:

Hai. Nội dung bài đăng

Liệu con cò lặn lội

là một sáng tạo hoàn chỉnh. Cách đảo ngữ – đặt chữ “Chan” ở đầu câu, thay từ láy – thay từ “con cò” bằng thân cò càng làm tăng thêm sự vất vả của bà. Từ thân cò gợi lên một nỗi đau thân phận sâu sắc và thấm thía hơn nỗi đau của người con trai Tuppen.

Nếu khổ thơ thứ ba gợi lên sự vật lộn của cô đơn thì khổ thơ thứ tư lại làm sáng tỏ sự vật lộn với cuộc sống của cô:

Thượng Thủy đầu đông

Câu thơ gợi lên cảnh người buôn bán tấp nập trên sông. Cuộc thi không thể đến mức ăn thịt người, nhưng không thiếu lời nói. Thuyền đông không bớt lo, thuyền vắng càng nguy hiểm. Trong ca dao, người mẹ đã từng dặn con: Con hãy nhớ câu này/ nước sâu chẳng rèn, thuyền chẳng đầy. Cuộc “họp thuyền đông người” không chỉ đầy những lời phàn nàn, cằn nhằn, cau có, xô đẩy mà còn đầy bất trắc, nguy hiểm. Hai câu thực ra đối lập nhau về ngôn ngữ (đò chật có chỗ) nhưng lại thừa về ý nghĩa để làm nổi bật những vất vả, cực nhọc của người bà: vất vả, cô đơn, cuộc đời còn nhiều vất vả. Những điều kiện kinh doanh.

Ba. kết thúc

Hai câu thực, kể chuyện thực của cục xương, cho ta biết sự thật của cục đất: tấm lòng hiền lành.

Nguồn: https://xettuyentrungcap.edu.vn
Danh mục: Hỏi Đáp

Related Articles

Back to top button