Hỏi Đáp

Giới thiệu về chiếc nón lá Việt Nam – Trường THPT Thành Phố Sóc Trăng

Title: Giới thiệu Nón lá Việt Nam

gioi thieu ve chiec non la viet nam

Bạn đang xem: Nón lá được làm từ gì

Bạn đang xem: Giới thiệu về chiếc nón lá Việt Nam

7 bài văn mẫu về nón lá Việt Nam

1. Giới thiệu Nón kết Việt Nam, Mẫu 1:

Chiếc nón lá Việt Nam là vật dụng để che nắng, che mưa, nắng gió, đồng thời cũng là vật dụng để che mặt, che miệng cười hay tạo thêm vẻ quyến rũ cho người phụ nữ Việt Nam.

Vật liệu làm nón là lá cọ, chỉ tơ, móc và tre làm khung. Cấu tạo của nón lá tuy đơn giản nhưng cũng đòi hỏi sự khéo léo của người thợ. Các hình nón có dạng hình chóp đều với tường bao quanh bởi nhiều lớp mép uốn cong. Phần vành mũ được làm bằng tre, vót tròn như khung đỡ để tạo dáng mũ duyên dáng. Ở đáy hình nón có một cạnh cong chắc hơn hình nón ở trên. Van nón, vành nón cứng hay giòn sẽ quyết định độ chắc chắn và độ bền của nón.

Nhưng phần quan trọng nhất của chiếc mũ là hai lớp lá cọ – chất liệu chính tạo nên chiếc mũ. Lá cọ khi khô phải non và có màu trắng. Giữa hai lớp lá cọ được lót một lớp lá cọ làm lõi, được phơi khô và lấy nứa, nứa. Tất cả các chất liệu làm nên nón phải không thấm nước, dễ dột để chịu được mưa to, ngày nắng không ổn định.

Để tăng thêm vẻ quyến rũ trong khi giữ mũ chắc chắn trên đầu người đội, một dải ruy băng mềm có hai gai được làm ở bên trong mũ. Chiếc mũ này được dệt từ sợi tơ tằm bền và đẹp. Người ta cũng có thể trang trí bên trong mũ bằng những hoa văn đậm chất dân tộc hoặc phủ một lớp dầu thông bóng bên ngoài.

Quy trình làm nón lá không khó lắm: đầu tiên phơi lá nón (lá cọ non) dưới nắng cho trắng, phơi xuống đất cho mềm rồi lật để lá rộng ra. Sau đó, giấy bạc được làm phẳng trên vật được nung nóng. Hình nón có hình tròn. Việc cuối cùng là buộc và khâu những chiếc lá còn ở mép khuôn. Dùng cọc tre đan 16 lớp vòng theo đường kim chỉ để hoàn thành sản phẩm. Nón may có thể hấp qua lửa để nón trắng hơn và chống ẩm mốc. Đây là công đoạn làm ra chiếc nón. Nói: Không khó nhưng thực ra đây là những tinh hoa của nghệ thuật chằm nón, đúc kết lâu dài.

Ở Việt Nam, có nhiều vùng nổi tiếng về nghề làm nón: nón Làng Chông (hà tay xưa) vừa bền vừa đẹp; Huế có bài thơ dịu dàng nón; nón Quảng Bình, Nam Định cũng có nét đẹp riêng.

Nón lá rất gần gũi với cuộc sống hàng ngày của người Việt Nam. Nó che mưa gió, che nắng, là món quà đầy kỷ niệm độc đáo và bền lâu. Nó làm tăng thêm nét duyên dáng cho các cô gái Việt Nam trong những ngày hội hè. Không có gì đẹp hơn một thiếu nữ trong tà áo dài thướt tha cùng nón lá bước đi uyển chuyển trong điệu múa nón.

Chiếc nón lá thực sự trở thành biểu tượng sống của người phụ nữ Việt Nam dịu dàng: anh hùng, bất khuất, trung hậu, dũng cảm.

Ngày nay, trong cuộc sống hiện đại, những chiếc mũ không còn giữ được vị trí và chức năng như ngày xưa nữa. Những chiếc mũ xinh xắn, những chiếc áo mưa sang trọng dần thay thế những chiếc mũ bình dị xưa cũ. Nhưng trong tâm thức của mỗi người Việt Nam, hình ảnh những chiếc nón lá vất vả, những đường khâu tinh xảo sẽ luôn hiện hữu. Trong những nét văn hóa đặc sắc của đất nước Việt Nam xinh đẹp luôn đẹp.

Giới thiệu về Nón lá Việt Nam là nội dung hữu ích. Ngoài ra, bạn có thể tham khảo tường thuật về kính tường thuật một món ăn để tốt hơn về ngữ pháp8.

thuyet minh ve chiec non la

Giới thiệu về chiếc nón lá Việt Nam tinh tế và duyên dáng

2. Mô tả tóm tắt về Nón kết bằng tiếng Việt, Mẫu 2:

Nón lá xuất hiện ở Việt Nam thế kỷ 13, tức là ở trần. Từ đó đến nay, chiếc nón lá gắn bó với người dân Việt Nam như hình với bóng. Không phải là vật bất ly thân để phân biệt giới tính, tuổi tác, địa vị … Nón luôn theo sát như người bạn đồng hành, che mưa che nắng trên mọi chặng đường. Chiếc nón lá đã trở thành biểu tượng của đất nước và con người Việt Nam?

Đầu tiên, mũ là một vật dụng rất “tiện ích”. Nó được dùng để che mưa. Nón kết, nón thúng rộng vành, nón ba lớp như nón thúng nhưng mỏng hơn … tất cả đều để che mưa. Mặc dù có nhiều loại mũ nhưng đặc điểm chung của chúng là có vành rộng (để chống nóng) và phần trên dốc (để thoát nước và mưa nhanh). Ngoài chức năng ứng phó với môi trường tự nhiên, chiếc nón còn được thiết kế để làm đẹp, duyên dáng cho người phụ nữ và phù hợp với ý thức thẩm mỹ của người Việt Nam: vẻ đẹp tinh tế và kín đáo. Dưới vành mũ, đôi mắt, nụ cười, má lúm đồng tiền, tóc mai và gáy sáng của cô gái dường như càng tăng thêm vẻ quyến rũ, trầm mặc nhưng đầy cám dỗ …

Người dân đội nón lá đi làm đồng, đi chợ, đi lễ hội. Thay cho bao lời nhắn nhủ yêu thương, người mẹ đội nón cho con khi tiễn con gái về nhà chồng … Chiếc nón này đã truyền cảm hứng cho thơ ca, nhạc họa. Có cả bài ca dao về nón: “Nón thơ, em đội nón thơ đi trẩy hội”… Bên dòng kênh, sông ở miệt vườn Nam Bộ, có người đã phải sững sờ vì: Tóc em xéo dài. “. Chiếc nón còn gợi cho tôi về dáng vẻ của một người mẹ:” Quê em là mẹ của Tiểu Hầu Kiều / Mũ nón nghiêng … “. Trong những năm tháng chiến tranh, để tiễn đưa người yêu ra chiến trường, các cô gái thường chung thủy đội nón lá. quai tím.Thế thôi, hơn hết tuổi trẻ Lời thề non hẹn biển, yên lòng người ra trận …

Nón lá thường được đan từ các loại lá, cây khác nhau như lá cọ, rơm, rạ, lá cối, lá hồ lô, lá bạch đàn chuyên làm nón, v.v. Có hoặc không có dây đeo bằng vải mềm hoặc lụa có thể được treo quanh cổ.

Các hình nón thường nhọn hoặc hơi cùn, mặc dù một số loại hình nón rộng và phẳng.

Nón có nhiều loại như nón ngựa hay nón chiêng (xuất xứ Bình Định, làm bằng lá dứa, thường dùng khi cưỡi ngựa), nón quai thao (người miền Bắc thường dùng trong các dịp lễ hội), nón lá thơ. (ở Huế, là loại nón lá mỏng màu trắng có in hình hoặc vài dòng thơ), nón lá (nón nhọn của các chiến binh thời phong kiến); nón rơm (nón làm bằng rơm ép cứng); nón cờ tướng (loại nón có tua rua). ); nón gõ (nón tre lấy chồng thời phong kiến); nón lá sen (còn gọi là nón lá sen); nón thúng (nón là cái thúng tròn giống quả bầu, thành ngữ “nón thúng quai thao”. ”); Nón khua (nón của quan chức thời phong kiến); nón chảo (nón hình tròn ở trên cùng, giống như một cái chảo úp ngược, ngày nay được sử dụng ở Thái Lan), v.v.

Đối với phụ nữ Huế, chiếc nón lưỡi trai sẽ luôn là người bạn đồng hành. Trong cuộc sống hàng ngày, những chiếc nón rất gần gũi với phụ nữ Huế. Nón không chỉ có chức năng che mưa, che nắng mà còn được phụ nữ Huế dùng làm vật đựng, phương tiện quạt mát và đặc biệt là có chức năng làm đẹp, tăng thêm nét duyên dáng cho phụ nữ Huế.

Ngày nay, nón lá đã phổ biến khắp Việt Nam như một nét văn hóa độc đáo của đất nước. Mỗi người nước ngoài đến Việt Nam đều muốn bỏ vào hành lý của mình một vài chiếc mũ để làm quà khi về nước.

3. Giới thiệu bài Chiếc nón lá Tiếng Việt lớp 10 Văn mẫu 3:

Nón hình nón có lịch sử lâu đời và được khắc trên trống đồng Yuhong và thạp đồng Daosheng cách đây khoảng 2500-3000 năm. Nón lá gần gũi với cuộc sống, tạo nên nhiều nét giản dị, trang nghiêm, dễ thương, duyên dáng cho người con gái Việt Nam, đời sống thực dụng, nông nghiệp. Có rất nhiều loại nón lá khác nhau ở Việt Nam trong các thời kỳ lịch sử khác nhau:

Nón lá: nón nhọn của binh lính thời xưa; nón cối hay nón ngựa: bằng phẳng, làm bằng lá dứa, đội khi cưỡi rơm: nón làm bằng cỏ ép. lễ hội: quân tử xưa dùng nón gõ tre Nón lá sen: còn gọi là nón lá, nón thúng: hình nón, hình thúng: nón lá, như cái chảo úp ngược Thái Lan ngày nay vẫn dùng: Nón mùa xuân dành cho những với một Donnon

Mặc dù có nhiều loại, nhưng phổ biến nhất là loại nắp hình nón. Phải nói rằng từ nông thôn đến thành thị người Việt Nam đã sử dụng nón lá, nhưng ít ai quan tâm đến việc nón lá có bao nhiêu cạnh và đường kính. bề rộng? . Nón lá đơn giản, rẻ tiền nhưng nghệ thuật làm nón phải thành thạo. Dùng mũi giáo nhọn, cẩn thận mài từng sợi tre thành 16 cạnh, sau đó uốn thành hình tròn mài nhẵn. Trong khung nón, người ta còn phải mua lá hoặc cắt lá non, búp, cành hình quạt, đem phơi nắng. Lá non có màu xanh trắng khi phơi khô nên phơi trong sương đêm. độ giòn. Người ta mở lá từ ngọn đến cuống lá, cắt bỏ phần cuối cùng, sau đó dùng cày nóng và giẻ để kéo những chiếc lá hình nón thành một tờ giấy mỏng, dài trên que hồng, để lộ những đường gân nhỏ. , chọn những chiếc lá đẹp nhất cho viền ngoài của nón. Sau đó người ta dùng klung hình chóp có 6 đường gân chính để đặt 16 cạnh kích thước khác nhau lên khung. Loại khung này thường do thợ chuyên nghiệp làm, khi làm theo kích thước của mái che, phần nón lá có thể dễ dàng tháo lắp. Các lá nón thành phẩm được đặt trên khung có lót một lớp mỏng giữa hai lá và được giữ cố định. Tiếp theo là công đoạn. Khi may, bàn tay của người thợ nhanh chóng trượt kim xuống và lỗ khâu được đóng lại. Người thợ lành nghề còn có biệt tài ẩn chỉ, khéo léo giấu những chiếc cúc nổi bên trong. Mũ thành phẩm vừa bền vừa đẹp. Ánh sáng mặt trời có thể nhìn thấy đồng đều. Mũ rộng 41 cm. Người ta phủ một lớp sơn mỏng bên ngoài để nước mưa không chui qua lỗ kim mà vào bên trong. Một chiếc mũ như vậy cần 15 mũi khâu từ rừng. Nhặt, phơi, đục lỗ, ủi, hái, cắm và cắt.

XEM THÊM:  Thế giới làm gì trong ngày 22/3?

gioi thieu ve chiec non la lop 8

Giới thiệu về các loại mũ nón tốt nhất

Cũng chính vì tính nghệ thuật mà người ta luôn coi trọng sản phẩm văn hóa này. Ngay trong thời đại thông tin, tuy không còn nhiều nhưng vẫn có những người yêu văn hóa truyền thống. Gắn bó với nghề nón tuy khó, nhưng sinh lợi. Họ hợp sức thành lập làng nón truyền thống, nơi cung cấp số lượng lớn nón cho các tỉnh, thành. Có thể kể đến làng Phú cam hay còn gọi là làng Phú cam. Phường Phước vinh, ngay trung tâm thành phố Huế, trên bờ nam sông An Cựu, làng Phú Cam nổi tiếng với chiếc nón bài thơ Huế đẹp về hình dáng, màu sắc trang nhã, mỏng nhẹ và chạm khắc tinh xảo. và có thể nhìn thấy rõ ràng trong ánh sáng. Bài văn tả cảnh xứ Huế có kèm theo bài thơ Hai chiếc lá. Hay xã nghia chau (nghệ hung) từ lâu đã được biết đến với nghề làm nón trang nhã, bền đẹp. Những chiếc nón lá thanh thoát ở Làng Chuông, Hà Tây), tất cả đã tô thêm vẻ đẹp cho nét văn hóa nón độc đáo của Việt Nam.

Và dĩ nhiên, nón lá có tất cả mọi thứ trong thơ ca. Nhà thơ bạch dương từng miêu tả chiếc nón lá trong một bài thơ ở Huế:

Người Huế yêu thơ, nhạc điệu áo dài trắng mềm mại, tay thơ e thẹn, bước đi nhẹ nhàng khi nắng hạ, thậm chí trong câu ca dao: nón này che nắng mưa, nón này thích đôi. , Nón lá cũng có duyên, nón lá dừa cũng có duyên rồi

Hình ảnh nón lá trong mắt nhà thơ là hình ảnh cô gái áo dài trong sáng, hồn nhiên, là hình ảnh người phụ nữ thôn quê chất phác, là hình ảnh của một tình yêu thầm kín. .

Mỗi chiếc mũ đều có linh hồn và ý nghĩa riêng. Hiện nay, ở Việt Nam, chúng ta có hàng chục loại nón truyền thống khác nhau, một minh chứng cho văn hóa và nghệ thuật đậm nét của chúng ta. Đời sống văn minh Sự phát triển của nón lá nhung ở Việt Nam vẫn còn nguyên sơ: cổ kính, trang nhã. Dù đi bất cứ nơi đâu, từ rừng sâu, đến cánh đồng bạt ngàn, dọc sông dài biển khơi, bạn đều có thể nhìn thấy chiếc nón lá này, trải qua hàng nghìn năm vẫn không thay đổi.

4. Hướng dẫn Giải bài Chiếc nón lá Tiếng Việt lớp 10 Văn mẫu 4:

Nón lá là vật đội đầu truyền thống của các dân tộc Đông và Đông Nam Á như Nhật Bản, Lào, Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, … Nón thường được đan từ các loại lá cây. cái cổ. Hình nón thường nhọn hoặc hơi cùn. Nón lá Việt Nam là hình ảnh mà những người xa quê rất mong mỏi được gặp lại. Chiếc mũ dệt kim đơn giản đó có lịch sử rất lâu đời. Hình ảnh trước đây của chiếc mũ được khắc trên trống đồng Yuhong, cách đây khoảng 2500-3000 năm, trên chùa đồng Daosheng. Từ xa xưa, nón lá đã xuất hiện trong đời sống sinh hoạt của người dân Việt Nam, trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, qua nhiều truyện, tiểu thuyết.

Nón lá Việt Nam là một phần của cuộc sống Việt Nam. Một người bạn trung thành của những người làm việc hai ngày một ngày. Trên đường đi nắng gắt hoặc trong giờ nghỉ làm nương, ngồi bên rừng tre, cô gái có thể lấy mũ quạt cho khô mồ hôi. Nón lá cũng thơ hơn, có thơ bên trong lá. Nếu bạn muốn đọc, hãy giơ nón lá lên và nhìn qua mặt trời.

Bài thơ sẽ xuất hiện trong chiếc nón …

Tham khảo: Chí tâm đảnh lễ là gì – Ý nghĩa của chí tâm đảnh lễ là gì?

Về mặt nghệ thuật, các cô gái múa nón lá duyên dáng trên tà áo dài thể hiện nét dịu dàng, nữ tính và nét riêng tư của người phụ nữ Việt Nam. Tất cả các nữ sinh đều đội nón lá. Nó có nhiều công dụng cho các cô gái đó. Mũ che nắng, che mưa. Chiếc mũ che trước ngực, khi che thân lại bị ánh mắt của cậu bé làm cho ngượng ngùng. Những chiếc mũ đôi khi cũng được dùng để đựng me và mận vào vườn. Những chiếc mũ cũng được vẫy để mang một làn gió mát đến khuôn mặt đang ửng đỏ vì nóng.

Cùng với áo dài, nón lá là vật dụng gắn bó thân thiết với người phụ nữ Việt Nam. Từ thơ ca, âm nhạc, hội họa đến phim ảnh, nón lá đã trở thành một thứ ngôn ngữ độc đáo giúp thể hiện hình ảnh và tư tưởng của người phụ nữ. Nón lá tồn tại ở ba miền, nhưng với Huế, chiếc nón lá đã trở thành biểu tượng của vẻ đẹp, sự nữ tính, thanh mảnh và sang trọng cho người phụ nữ Huế.

Nghề chằm nón ở Huế xuất hiện từ bao giờ, ông tổ của nghề này là ai … Những câu hỏi này thậm chí người làm nghề này lâu đời nhất ở Huế ngày nay cũng không biết. Nhưng có một điều chắc chắn là nghề chằm nón ở Huế đã có từ lâu đời, bằng chứng là những câu ca dao, tục ngữ cho rằng nón Huế đã đi vào lòng đất nước. Nhiều người Huế đã thuộc lòng câu ca dao phổ biến:

“Ai về Huế mộng mơ mua nón thơ về làm quà”

Hay:

“Gương mặt anh hùng tuấn tú của cô thôn nữ lúc nắng lúc mưa”

Nghề chằm nón ở Huế có nhiều nơi xa lạ, không có ông tổ nhưng nghề nào cũng có, Huế còn có những làng nghề chằm nón nổi tiếng như Đông Di – Xí Hạ – la Ỷ – nam phố (huyện phú vang) – phủ cam – dốt. so (TP. Huế). Mỗi làng chuyên sản xuất một loại nón. Để làm ra những chiếc nón 3 lớp đẹp có la Ỷ, nam phu, doc so, để làm nón câu nổi tiếng thì có Dongdi – Tai Ho – bọc quýt. Về hình dáng và độ mảnh, nón màu khác với nón ở các vùng khác. Vì vậy, mặc dù đều là nón lá nhưng mỗi chiếc đều có những đặc điểm riêng, dù đặt ở đâu cũng có thể nhận ra nón của Huệ:

“Áo trắng, trời chẳng thấy nắng, đời chẳng như nắng trùm qua nón” Áo dài và nón Huế

So với các loại nón ở các vùng khác, nón huế thích hợp nhất cho thơ ca và âm nhạc. Dáng người thiếu nữ Huế với chiếc nón thơ khi choàng trên đầu, trên tay, khi nghiêng mình e ấp tạo nên một vẻ đẹp rất riêng. Theo thời gian, nói đến nón thơ người ta nghĩ ngay đến Huế. Trong chiếc nón, bài thơ thể hiện vẻ đẹp của toàn bộ vùng văn hóa. Chiếc nón của Thơ thon gọn, cầm nhẹ tay, thanh thoát từ đường kim mũi chỉ đến vành nón, nhỏ và nhọn. Nếu đúng như vậy thì chiếc nón có gì đặc biệt, làm sao thổi được hồn Huế vào chiếc nón, vật dụng cần thiết hàng ngày của phụ nữ Huế. Bài thơ trên nón là một cách sáng tạo của những người thợ nón Huế. Những bài thơ không được viết bằng mực, mà được cắt ra từ giấy, khéo léo ẩn giữa hai lớp lá xanh, và phải đọc dưới ánh sáng mặt trời. Lòng người Huế luôn thầm kín như vậy. Yêu thôi chưa đủ, còn cần sự kiên trì và thử thách mới có thể đáp trả được tâm hồn của một cô gái Huế. Đây là bí mật của Cố đô Huế. Dù chỉ là một chiếc nón thơ nhỏ nhưng người dân xứ Huế cũng gửi gắm vào đó những triết lý, nhân sinh quan sâu sắc.

thuyet minh ve chiec non la lop 9 ngan gon

Giới thiệu chi tiết và ấn tượng về chiếc nón lá Việt Nam

Trong ký ức của những người lớn tuổi, phụ nữ Huế khi ra đường phải mặc áo dài, đội nón lá trên đầu. Dù là sáng sớm hay chiều mát thì chiếc nón như một vật bất ly thân. Chịu ảnh hưởng của cuộc sống khép kín và lối sống hoàng gia kín đáo, chiếc mũ đã giúp quý cô giấu mặt và lịch sự bày tỏ tình yêu với người lạ. Dưới sự tài tình của chủ nhân, chiếc nón đã biến thành một sự quyến rũ hết sức kiềm chế và tinh tế, đến nỗi nhà thơ Trần Quang Long phải thốt lên: “Sao anh biết là em đã nhìn thấy anh nghiêng nón”.

Cảnh đẹp thơ mộng của Huế, những con đường vắng lặng, những cô gái Huế đội nón lá thanh lịch, bài thơ này đã trở thành một trong những hình ảnh biểu tượng cho vẻ đẹp của Huế. Hình ảnh này đã ảnh hưởng đến đời sống nghệ thuật của vùng đất. Nón lá không chỉ xuất hiện trong thơ ca, nhạc họa mà còn xuất hiện trong tranh. Với một vài nét phác thảo dạng dải thon hoặc hình kim tự tháp màu trắng nhạt, vành mũ được làm dốc để người xem hiểu rằng đó là hình một cô gái, đó là mũ màu. Họa sĩ Đăng mai Tút – Phó chủ tịch Hiệp hội – thua cuộc cho biết: “Lịch sử nón lá Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn và biến đổi, từ nón lá tròn (nón lá cổ miền Bắc) sang nón lá tròn dẹt. Nón kết (từ nón lá cổ phương Bắc. Nón quai thao) đến nón lá (nón lưỡi trai). Về hình dáng, hình chóp tạo khối ba chiều trong không gian giúp nâng cao hiệu quả thẩm mỹ. Nón có chiều sâu, có thể không chặn Nhiều ánh sáng mặt trời tạo ra sự sạch sẽ và sang trọng. ”

Càng đi sâu nghiên cứu, tôi càng thấy rằng nón lá có sức sống bền bỉ và tạo nên những liên tưởng phong phú trong đời sống nghệ thuật. Sự thăng hoa này của nón lá đến từ một yếu tố cơ bản, đó là sự gắn bó với cuộc sống. Nón có mặt ở khắp nơi trong đời sống, từ cung cấm đến nông thôn, từ trường học, đường phố đến đồng ruộng; đến thời hiện đại, nón lá còn được xuất khẩu ra nước ngoài, xuất hiện trên bầu trời Châu Âu và Hoa Kỳ, với quy mô lớn. catwalk trong các cuộc thi nhan sắc quốc tế có người Việt tham dự. Dù xuất hiện ở không gian nào thì chiếc nón Huế vẫn mang hồn làng, vẫn mang hương đồng, gia phong của làng nghề truyền thống nơi nó ra đời.

XEM THÊM:  CBM là gì? Hướng dẫn quy đổi CBM trong xuất nhập khẩu

Chúng tôi đến Làng Đông Di (thôn Đông Di-xã Phú Hộ-huyện Phú Vang), là một làng nghề chằm nón nổi tiếng ở Huế. Những chiếc gùi giản dị, mộc mạc ấy góp phần lưu giữ cái hồn của sắc cổ thụ trong từng sắc lá kim. Mũ Trạng Trình Đông Hoàng nổi tiếng vì lá xanh ngọc, chóp kim dày và thẳng, mũ vừa sáng vừa sáng, có thể nhìn rõ các bài thơ, hoa văn ẩn hiện trong mũ. Vẫn còn rất nhiều hộ làm nón ở đồng di – có đến 80% số hộ trong làng làm nghề này, không giống như la Ỷ, nam phở, phủ cam,… làng nghề bàng hoàng trước số hộ làm nón ngày càng đông. đến các ngành nghề khác và nhiều ngành nghề khác. Còn với Đông Di, tôi được biết có rất nhiều gia đình theo nghề chằm nón từ bao đời nay. Khi đến mùa, người lớn ra đồng cấy lúa, trẻ em làm nón ở nhà, sau vụ mùa, cả nhà cùng làm. Trong năm học, các em đi học một buổi, một buổi ở nhà, tuy thu nhập không cao nhưng các em cũng giúp bố mẹ chuẩn bị sách vở cho năm học mới. Mười ngày một tuần, những chiếc mũ Dongdi được dân làng bán ở chợ Dyer. Ngày Chợ quê vẫn là dịp để trẻ em hào hứng với những món quà dành cho các bà mẹ và phụ nữ cho những nhu cầu thiết yếu trong gia đình. Nghề làm nón đã gắn bó với người dân Dongdi từ bao đời nay và chưa bao giờ thay đổi. Dẫn chứng gần 50 năm kinh nghiệm làm nón, bà Dư, 60 tuổi, ở làng Đông Di cho biết: “Nón thơ Đông Di đã nổi tiếng ở Huế từ xa xưa, người làm nón ở làng bây giờ cũng vậy. Làm nón Thu nhập từ nghề chằm nón Rất thấp nhưng siêng năng thì cũng có tiền chợ, ở quê mùa màng xong là biết làm, dù là một chút cũng không sao. và bạn có tiền vào. Các cháu có nghề nón ở nhà cũng phụ giúp, Hay chơi. Ngày xưa Dongdi chỉ làm nón lá nhưng bây giờ có thêm nhiều loại nón lá. Dù làm nón kiểu gì đi nữa. nghề thủ công của người Dongdi vẫn vậy. ”

Ngày nay nón Huế không chỉ có nón câu, nón ba lớp, nón găng như ngày xưa mà theo thị hiếu người tiêu dùng, nón Huế hiện nay còn có mũ thêu, mũ lá cọ. Hơn nữa, do đời sống phát triển, xe máy không thích đội nón lá nên nhiều thiếu nữ Huế bây giờ không còn cơ hội để “đội nón lá chéo”. Nhưng hình ảnh chiếc nón được sử dụng rất nhiều trong cuộc sống. Nón lá xuất hiện trong các khách sạn, nhà hàng và lễ hội như một vật trang trí duyên dáng. Nghề chằm nón được biết đến là một nghề mang nét đẹp của truyền thống Huế xưa. Tại khu hành hương làng gốc, chủ nhân đã xây dựng cả một ngôi đình để giới thiệu nghề chằm nón với du khách, mang nét đẹp văn hóa làng Huế.

Những câu thơ hay về nón Huế và người phụ nữ Huế vẫn là những vần thơ gây xúc động trong lòng nhiều người. Những chiếc nón che nắng hiện nay, ngoài những yếu tố truyền thống được làng nghề lưu giữ lại thì nón cũng đã bắt đầu có những bước phát triển để phù hợp với cuộc sống mới. Đời là thể thao, và nón Huế cũng đã bắt đầu vươn ra khỏi không gian của Huế và Việt Nam, hướng tới bạn bè quốc tế. Và bài giới thiệu đầy đủ và chi tiết nhất về Nón lá Huế sẽ ra mắt tại Festival Huế vào tháng 7 tới.

Ví dụ Bài 5: Giới thiệu về chiếc nón lá Việt Nam

Bạn nhớ rằng trong bài thơ của Ruan Curtin, chiếc nón lá trông rất tự nhiên và chặt chẽ:

Tại sao bạn không đến xem quê hương của tôi

Lần đầu tiên tôi thấy bạn đội mũ

Những chiếc lá và mũ làm bằng tay

Mười sáu vòng, mười sáu tháng tăng

Như vậy chúng ta có thể thấy rằng, nón lá đã là biểu tượng của sự dịu dàng, giản dị và thân thiện của người phụ nữ Việt Nam từ ngàn đời nay.

Nón lá ra đời từ rất lâu, khoảng 2500-3000 năm trước Công nguyên. Lịch sử hình thành và bảo quản cho đến ngày nay minh chứng cho sự bền vững của sản phẩm này. Nón lá xuất hiện trong cuộc sống hàng ngày của người Việt Nam, đặc biệt là phụ nữ, trong các câu chuyện của các bà, các mẹ và trong các cuộc thi giữ gìn nét đẹp văn hóa.

Nhắc đến nón lá, chắc chắn người ta sẽ nghĩ ngay đến xứ Huế, một vùng đất đầy chất thơ và trữ tình, với những nụ cười duyên dáng của tà áo dài và những cô gái Huế. Huế còn được biết đến là nơi sản xuất ra nhiều thương hiệu nón lá nổi tiếng. Làng nghề làm nón lá ở Huế thu hút rất nhiều du khách thập phương đến tham quan và chọn sản phẩm này về làm quà.

Để làm ra một chiếc nón lá đẹp, người làm cần tỉ mỉ trong khâu chọn nguyên liệu, cách phơi lá, khâu từng đường kim mũi chỉ, v.v. Người ta vẫn nói làm nón lá phải mất cả tấm lòng.

Nón lá có thể được làm từ dừa hoặc lá cọ. Mỗi loại lá lại mang đến sự khác biệt cho sản phẩm. Thông thường, các sản phẩm hình nón làm từ lá dừa có xuất xứ từ miền Nam, nơi dừa được trồng rất nhiều. Tuy nhiên, lá dừa làm từ lá dừa sẽ không đẹp và tinh xảo như lá cọ. Lá cọ mềm và chắc hơn. Khi chọn lá cũng phải chọn những chiếc lá xanh, bóng, có gân tạo điểm nổi bật cho sản phẩm. Quá trình phơi để lá trở nên mềm cũng dễ dàng và cũng mất 2-4 giờ, lá mềm và xẹp.

May tạo vành là công đoạn cực kỳ quan trọng để tạo khung chắc chắn cho sản phẩm. Người dùng cần chọn những nan tre mềm mại, dẻo dai. Khi mài tre, hãy mài cẩn thận cho đến khi nó có thể uốn cong mà không sợ bị gãy. Sau đó người dùng sẽ uốn đường kính từ nhỏ đến lớn để tạo thành khung của nón lá tạo thành hình chóp phù hợp.

Khi bạn tạo khung và chuẩn bị lá, bạn sẽ bước vào giai đoạn hình nón. Đây là công đoạn giữ khung và lá lại với nhau. Thông thường, các nhà sản xuất dán vào những sợi nylon mỏng, dai, màu trắng trong.

Khi mũ được may xong, người dùng bắt đầu tra dầu và lau khô để dầu bám vào mũ và giữ được độ bền dưới nắng mưa.

Đi dọc các vùng quê, chúng tôi không thấy nón lá đâu cả. Dù nắng hay mưa thì đó là bạn của phụ nữ. Không chỉ dùng để che nắng, che mưa, nón lá còn xuất hiện trong các buổi biểu diễn nghệ thuật, đến với bạn bè năm châu. Nét đẹp văn hóa nón lá là một nét đẹp cần được lưu giữ và bảo tồn. Nói đến nón lá chắc chắn chúng ta nghĩ ngay đến tà áo dài Việt Nam, bởi đây là hai thứ luôn song hành cùng nhau và đã tạo nên nét riêng của người phụ nữ Việt Nam từ ngàn đời nay.

Tham khảo: Sau need là gì và cấu trúc của need trong Tiếng Anh

Để nón có tuổi thọ cao, người sử dụng cần thông minh và tra dầu thường xuyên để không làm hỏng và mòn nón.

Nón lá Việt Nam là hàng Việt Nam, tôn lên vẻ đẹp của người phụ nữ và khẳng định sự tồn tại lâu dài của sản phẩm này.

5. Giới thiệu chiếc nón lá Việt Nam Mẫu 5:

Ở Việt Nam có hơn năm mươi dân tộc được chia thành nhiều vùng miền khác nhau. Nhưng chủ yếu được chia thành ba khu vực: Bắc – Trung – Nam.

Mỗi vùng có phong tục riêng. Nói đến trang phục thì áo tứ thân và phụ kiện đi kèm là nón quai thao đại diện cho người miền Bắc. Ở miền trung và miền nam nói chung đều có Aodai, đặc biệt là Aodai đi kèm với chiếc nón lá quen thuộc. Nó làm cho tà áo dài hay áo bà ba thêm duyên dáng, dịu dàng và tôn lên vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam.

Nắp hình nón là một yếu tố lâu đời. Tổ tiên của nón lá đã được chạm khắc trên trống đồng Yulu, thạp đồng Taotao vào khoảng 2500-3000 năm trước Công nguyên. Trải qua bao lần chống ngoại xâm, nghề chằm nón vẫn được duy trì và tồn tại cho đến ngày nay. Và hiện nay các làng làm nón lá như Dongdi (Phủ vàng), Dale (hương thủy), Phủ Cẩm (Huế) là những làng nón lá đặc sắc nhất. Các làng nghề này tạo ra hàng hóa công cộng. phu và nó cũng là một trong những điểm thu hút khách du lịch.

Một chiếc nón lá đẹp phải trải qua nhiều công đoạn. Công đoạn đầu tiên là chọn lá, phơi khô, chọn những sợi chỉ mảnh trong từng đường kim mũi chỉ. Bạn có thể dùng lá dừa hoặc lá cọ làm lá cho chiếc nón.

Lá Dừa: Để có được Lá Dừa, bạn phải mua từ miền Nam. Những chiếc lá được vận chuyển và làm thủ công trước khi đến nơi. Sau đó, lá được lựa chọn để xử lý bằng lưu huỳnh để đảm bảo tuổi thọ của lá theo thời gian và màu sắc. Dù khâu chọn lá tỉ mỉ nhưng những chiếc nón làm ra không đẹp bằng những chiếc nón làm bằng lá cọ.

Lá cọ: Để đội một chiếc mũ đẹp, người thợ may cần phải tỉ mỉ hơn trong mọi việc, từ nhặt lá đến khâu. Lá cọ phải có các yếu tố sau: lá non vừa phải, gân lá phải xanh, màu lá cũng xanh trắng. Nếu gân và lá có màu trắng, mũ không đẹp.

Một chiếc mũ đạt tiêu chuẩn đầy đủ phải có màu trắng và xanh lá với họa tiết xanh nhạt, mặt phải bóng, màu sắc của họa tiết nổi lên đẹp mắt khi đan lên mũ. Để làm được điều này, các thủ tục phải được tuân thủ một cách tuân thủ.

Phải phơi khô đúng cách, trên bếp than (đối với lá cọ, không phơi nắng). Sau đó đem phơi sương từ 2 đến 4 tiếng để lá mềm. Sau đó dùng một miếng vải và miếng gang bắc lên bếp than và ủi ở lửa vừa sao cho phẳng từng chiếc lá. Mỗi chiếc lá phải được lựa chọn cẩn thận và cắt thành những chiếc lá có cùng chiều dài 50 cm (lá cọ).

XEM THÊM:  Chạy quảng cáo tiếng Anh là gì

Những người thợ làm nón (thường là nam giới) dùng một thanh sắt để mài từng nan tre sao cho tròn và có đường kính rất nhỏ, thường chỉ lớn hơn que tăm một chút. Các nan tre này sau đó được vê tròn từ lớn đến nhỏ và được chà nhám. Mỗi chiếc nón có 16 nan tre được uốn cong như thế này. Những chiếc nhẫn sẽ được đặt trong khung gỗ hình kim tự tháp từ dưới lên trên. Sau đó người thợ xếp lá lên khung, người xếp lá phải có tay nghề cao và đều tay để lá không chồng lên nhau, xê dịch.

Sẽ thật thiếu sót nếu kể quá trình làm nón mà không nhắc đến nghệ thuật làm nón của Huế. Đặc biệt nón bài thơ ở Huế rất mỏng, vì chỉ có hai lớp lá, lớp thứ nhất chỉ có hai mươi lá, lớp ngoài chỉ có ba mươi lá, lớp lá thơ được lồng vào giữa. Khi làm lá tranh, người làm phải rất khéo tay để khi nêm các lá không bị chồng lên nhau hoặc xiên vào nhau, như vậy nón lá của chúng ta sẽ có độ thanh và độ mỏng. Nhìn chiếc mũ dưới nắng, người ta sẽ thấy thơ, hoặc nhìn thấy chùa Càn Khôn hay chùa Thiên Mục. Chính những chi tiết này đã tạo nên nét độc đáo cho chiếc nón lá Huế. Đội chiếc nón bài thơ và người đội nó phải tự hào vì đã mang đến cho họ một phong cảnh đẹp hay một bài thơ mang đậm màu sắc Việt Nam.

Sau khi sắp xếp những chiếc lá đều và ngay ngắn xung quanh vành nón, mọi người bắt đầu nhìn chằm chằm vào chiếc nón. Mũ được làm từ những sợi nylon dẻo, dai, chắc, có màu trắng trong. Côn không được lệch và đường kim mũi chỉ đều. Nón lá sau khi làm xong, người ta gắn “hột xoài” vào nón bằng sợi chỉ bóng để tạo duyên. Sau khi làm nổi bật chiếc nón, người thợ sẽ bôi dầu nhiều lần lên nón để phơi dưới ánh nắng vừa đủ để chiếc nón vừa thẩm mỹ vừa bền. Trong hai nan tre hình tròn lớn ở phần dưới của hình chóp, nan thứ ba và nan thứ tư, người thợ sẽ thắt dây thành hai cặp đối xứng nhau.

Quai đeo vai nói chung được làm bằng màu xanh lá cây, nhung, .. với các màu tím, hồng đào, xanh da trời, .. và các màu tươi sáng khác để làm cho mũ đẹp hơn và tăng vẻ duyên dáng cho người đội mũ. Nón lá cũng giống như người phụ nữ Việt Nam, không chỉ đẹp từng chi tiết mà còn ở dáng nón. Người thợ giao cho mỗi “đứa con” hình ảnh mang đậm nét văn hóa truyền thống dân tộc.

Từ Bắc chí Nam, từ Tây Hồ Zhongcun đến Barton, nón lá có mặt khắp mọi nẻo đường và trở nên quen thuộc với phụ nữ trong cuộc sống hàng ngày. Nón không chỉ là một vật dụng bất ly thân mà còn là người bạn trung thành của những người lao động dãi nắng dầm mưa, đội nón ngoài đồng, nón ngoài chợ Nón còn là chiếc quạt xua tan bao mệt mỏi, mồ hôi. Nắng hè có thể gây chói mắt nhưng cũng tôn thêm vẻ quyến rũ và tăng thêm vẻ nữ tính cho phái đẹp. Mỗi khi tan học, tà áo dài trắng tinh khôi, cô gái xinh đẹp e ấp dưới nón lá với má lúm đồng tiền thật mê hoặc, đó là nguồn cảm hứng nghệ thuật của biết bao văn nghệ sĩ, … Trong nghệ thuật, những cô gái múa nón lá dưới duyên Áo dài thể hiện sự dịu dàng, mềm mại và dịu dàng của người phụ nữ Việt Nam đã nhiều lần xuất hiện và giành được những tràng pháo tay tán thưởng của khán giả.

Muốn mũ nón được bền, bạn chỉ nên đội khi nắng, không nên đội mưa. Sau khi sử dụng cần bảo quản nơi thoáng mát, không phơi nắng nếu không vành nón sẽ bị cong, giòn và ố vàng, mất mỹ quan, giảm tuổi thọ của nón. Nắp nón là bề mặt của nước chúng ta, hãy giữ nó đúng cách để tránh bị hư hỏng. Chúng ta hãy trân trọng truyền thống lâu đời, nón lá sẽ là người bạn và sẽ luôn sát cánh bên chúng ta dù mưa to gió lớn đến đâu.

7. Giới thiệu chi tiết Chiếc nón lá Việt Nam Mẫu 7:

Với chiếc áo bà ba, chiếc “nón lá” đã theo người đàn bà miệt vườn, chiếc xuồng ba lá theo con nước lớn, con nước, mưa nắng chiều … từ lâu. Nón lá đã trở thành một phần trang phục không thể thiếu của phụ nữ miền Nam, đặc biệt là phụ nữ Việt Nam.

Ngày nay nón lá là một hình ảnh quen thuộc với mọi người, nhưng mấy ai biết được ở đâu có chiếc nón lá có thể che mưa che nắng, che mưa, phơi nắng. Ngày xưa ông cha ta đã lấy rất nhiều nỗ lực để nghĩ ra chiếc nón lá này. Nón lá có dạng hình nón. Có nhiều loại nón lưỡi trai khác nhau. Nón lá (sản xuất ở tỉnh Bình Định, làm bằng lá dứa, thường dùng khi cưỡi ngựa), nón quai thao (dùng trong các lễ hội ở miền Bắc Việt Nam), nón lá thơ (Huế, là một loại nón lá màu trắng), mỏng. và những bức tranh mỏng hoặc một vài bài thơ), nón lá (nón nhọn của cựu chiến binh) … nón được làm từ nhiều chất liệu khác nhau như lá cọ, lá dừa, lá dong … nhưng chủ yếu là nón làm bằng lá cây. Lá nón được làm từ những chiếc lá không quá non cũng không quá già – những chiếc lá thường vẫn còn đọt non, vừa tròn một tháng tuổi, đã phát triển hết chiều dài và chiều rộng, chưa chuyển sang màu xanh đậm, bẹ ôm sát từng bẹ. khác. nhau, chưa bung, mềm, dài khoảng 40 – 50 cm.

Làm ra một chiếc nón lá vừa đẹp, vừa bền là cả một nghệ thuật của người nghệ nhân và là một công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, cẩn thận trong từng công đoạn của quá trình sản xuất.

Ở khâu kỹ thuật, người thợ chằm nón dày dặn kinh nghiệm chọn những chiếc lá, chiếc nón vẫn giữ được màu xanh nhạt, 16 mép mỏng có xu hướng được bo tròn, chi tiết và tinh tế. Các lá được ủi vài lần, cẩn thận để chúng thật phẳng và mịn. Hình dạng của nón lá phần lớn được xác định bởi khung của ánh nhìn. Khung nón (hay còn gọi là bế nón) phải được đặt riêng theo yêu cầu riêng để hình dáng nón được cân đối, đẹp mắt và đạt yêu cầu. Người chằm nón duy trì các kỹ năng tạo mẫu, khoảng cách vành nón và độ tròn của vành nón … Là nghề gia truyền, theo quan niệm thẩm mỹ dân gian là “tinh mắt”, thực chất đó là một tổng thể có tỷ lệ cân đối, phù hợp với nhiều người. nhiều thế hệ và nhiều nơi. Thử nghiệm “Dễ dàng đối với mắt người”.

Hãy khéo léo khi xây dựng và lợp mái, đặc biệt là khi sử dụng các loại lá hình nêm, tránh chồng nhiều lớp, làm nón thưa và mỏng, mũi chỉ tạo cho các lá có khe hở ôm vào nhau.

Khi hoàn thành, nghệ nhân buộc trái xoài lên đỉnh nón bằng một sợi chỉ màu đẹp, sau đó bôi dầu vài lần cho nón và phơi đủ nắng để nón bóng và bền.

Từ khi có chức năng “đội nón”, chiếc nón đã theo chân người nông dân ra đồng, theo người phụ nữ đến từ trưa sớm, dùng để quạt cho cháu trai ngủ và được các thầy cô sử dụng. Người mẹ vỗ đầu đội viên và nắm tay dắt con đến trường. Những người mẹ đang khóc cũng đội chiếc mũ nhẹ lên đầu đứa con gái yêu của họ trước khi lên đường về nhà chồng. Nón lá còn xuất hiện trong sách vở, thơ ca, kỷ niệm tình yêu trai gái qua tiếng hát của người bình dân… và nón lá đã thực sự trở thành một phần của cuộc sống vô cùng đẹp đẽ và lãng mạn trong cuộc sống. TÔI.

Từ lâu chúng ta đã biết nón lá là một vật dụng rất đỗi quen thuộc bởi nó đã gắn bó và trở thành một phần trong cuộc sống của người dân Việt Nam. Nón lá gần gũi với đời sống, trên nương rẫy, lũy tre làng đã tạo nên bao nét giản dị, duyên dáng, thiết thực cho đời sống người nông dân “một nắng hai sương”. Cùng với áo dài, nón lá đã trở thành một biểu tượng, một hình ảnh truyền thống của văn hóa Việt Nam.

Nón lá nghiễm nhiên đi vào huyền thoại như một nét đẹp văn hóa, mang hồn dân tộc làm cảm hứng thơ ca. Chiếc nón lá chỉ 45-50000 đồng nhưng đã lột tả được nét đẹp, nét duyên dáng của con người Việt Nam.

Do hiện đại hóa, nhiều công ty đã sản xuất ra nhiều mẫu ô dù, nón… đẹp và lộng lẫy, nhưng hình ảnh chiếc nón lá vẫn hiện hữu và thể hiện sự hiện hữu của nó trên con đường từ nông thôn đến thành phố. Xét về giá trị sử dụng và nét đẹp thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam.

Những thứ muốn bền và đẹp cần phải được bảo quản tốt, nón lá cũng vậy, phụ nữ Việt Nam sau khi sử dụng phải treo lên và bọc lại cẩn thận. Do đó, thời gian sử dụng sẽ lâu hơn.

Mặc dù nón lá không được thiết kế dành riêng cho phụ nữ, nhưng nhắc đến nón lá là người ta thường liên tưởng đến hình ảnh người phụ nữ “đội nón xéo” đầy ấn tượng!

So với các loại nón ở các vùng khác, nón huế thích hợp nhất cho thơ ca và âm nhạc. Hình ảnh cô gái Huế với chiếc nón lá thơ mộng, khi đội trên đầu, khi cầm trên tay, khi nghiêng mình e ấp tạo nên một vẻ đẹp rất riêng. Tựu trung lại, người ta nghĩ đến nón thơ là nghĩ ngay đến huệ.

Chiếc nón lá Việt Nam là vật dụng không thể thiếu và là người bạn thân thiết của người dân. Tuy giá trị vật chất không cao nhưng xét về giá trị tinh thần thì không loại mũ nào sánh kịp.

Nhà xuất bản: thpt Sóc Trăng

Danh mục: Giáo dục

Tham khảo: Công dụng thuốc Mypara 250 và 500 | Vinmec

Vậy là đến đây bài viết về Giới thiệu về chiếc nón lá Việt Nam – Trường THPT Thành Phố Sóc Trăng đã dừng lại rồi. Hy vọng bạn luôn theo dõi và đọc những bài viết hay của chúng tôi trên website Xettuyentrungcap.edu.vn

Chúc các bạn luôn gặt hái nhiều thành công trong cuộc sống!

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button