Sáng kiến kinh nghiệm lớp 4 năm 2015

Trên đó là một vài tay nghề của bạn dạng thân tôi đúc rút được vào dạy tân oán. Bước đầu tôi sẽ vận dụng cho lớp học tập của chính bản thân mình bao gồm công dụng hết sức thực tế cùng đang vận dụng tiếp Một trong những năm cho tới. Vấn đề giải tân oán bao gồm lời vnạp năng lượng là vấn đề rất rộng cơ mà vào phạm vi nhỏ nhắn của sáng tạo độc đáo kinh nghiệm tay nghề vẫn không trình bày hết được.




Bạn đang xem: Sáng kiến kinh nghiệm lớp 4 năm 2015

*



Xem thêm: Bài Thuyết Trình Về Cổng Trại Hay Nhất, Thuyết Trình Cổng Trại 26

Nội dung Text: Báo cáo SKKN: Một số phương án góp học viên lớp 4 có công dụng giải tốt những bài tân oán bao gồm lời văn


Xem thêm: Tuyensinh Pgd Binh Chanh Hcm Edu Vn, Diemthi/Diem_Scan/He_Dai_Hoc_Chinh_Quy

CỘNG HÒA XàHỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập­ Tự do­ Hạnh phúc BÁO CÁO SÁNG KIẾN “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 có khả năng giải tốt các bài toán  có lời văn” I. Tác giả sáng kiến: Đoàn Thị Quỳnh Chức vụ: Giáo viên Đơn vị: Trường tiểu học Ngọc Xuân, thành phố Cao Bằng. II. Lĩnh vực áp dụng  Sáng kiến: “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 có khả năng giải tốt các bài toán có lời văn” áp dụng trong giảng dạy môn toán ở trường Tiểu học. III. Thực trạng trước khi áp dụng sáng loài kiến Trong chương trình môn Toán lớp 4, việc dạy ­ học giải toán có lời văn có vị trí vô cùng quan trọng. Thực tế qua kết quả giảng dạy của nhiều năm học tập, học sinh giải toán có lời văn đạt kết quả chưa cao. Cụ thể các em chưa có phương pháp giải và ngôn ngữ có hạn nên việc hiểu nội dung, yêu cầu của bài toán có lời văn chưa được đầy đầy đủ và chính xác. Ngoài ra, khả năng suy luận của các em còn hạn chế nên các em ít hứng thú giải toán có lời văn bởi các bài toán có phép tính sẵn. Chính vì vậy, giải toán có lời văn đối với học tập sinh lớp 4 là một yêu cầu cao và cực nhọc. Nó đòi hỏi học sinh phải có năng lực tư duy trừu tượng, khái quát linh hoạt, sáng tạo thành. Vì môn Toan l ́ ớp 4 là khối lớp khó so với học sinh đang học lớp 3 và co rât nhiêu vân đê giao viên cân phai ́ ́ ̀ ́ ̀ ́ ̀ ̉  ́ ững, giup hoc sinh vnăm v ́ ̣ ượt qua nhưng v ̃ ương măc kho khăn uống.  ́ ́ ́ Trong năm học 2015 – 2016 khi tôi công tác tại trường tiểu học Duyệt Trung thành phố Cao Bằng, tôi được phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp 4B với tổng số là 26 học sinc. Quá trình dạy môn Toán tôi thấy nhận thức của học sinh không đồng phần đa, đa số các em còn rất lúng túng và khó khăn khi thực hiện giải bài toán có lời vnạp năng lượng, các em chưa có kỹ năng diễn đạt, phân tích vấn đề nên dẫn đến chât lượng học môn Toán còn rất tốt. Từ những nguyên nhân trên, tôi tiến hành khảo sát chất lượng môn toán kết quả đầu năm như sau: TS HS Điểm 9 ­ 10 Điểm 7 ­ 8 Điểm 5 ­ 6 Điểm dưới 5 Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ lượn lượng lượng lượng g 26 1 3,85 % 3 11,5 % 12 46,15 10 38,5  % % Với chất lượng như trên, sau khi xác định được những khó khăn tồn tại mà học sinh mắc phải dẫn đến việc giải toán có lời văn của học sinh còn bị  1 hạn chế. Từ những khó khăn kia, học sinh học toán đạt kết quả chưa cao. Tôi mạnh dạn tìm hiểu và áp dụng sáng kiến này với học sinh lớp mình chủ nhiệm. IV. Mô tả bản chất của sáng loài kiến 1. Tính mới, tính sáng tạo thành, tính khoa học 1.1. Tính mới: Sáng kiến được áp dụng lần đầu tiên tại lớp 4B, ngôi trường Tiểu học Duyệt Trung, thành phố Cao Bằng trong năm học 2015 – 2016 và không trùng với bất kỳ sáng kiến như thế nào. 1.2. Tính sáng chế, tính khoa học: Trong năm học năm ngoái ­năm nhâm thìn tôi đã nghiên cứu và áp dụng “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 có khả năng giải tốt các bài toán có lời văn”. Sáng kiến này đảm bảo tính sáng tạo và khoa học được thể hiện qua các biện pháp sau: *Biện pháp 1: Rèn khả năng cho học sinh thực hiện các bước giải bài toán. Giáo viên yêu cầu học sinh cần cố được các dạng bài toán vào chương trình sách giáo khoa Toán lớp 4 có các dạng cơ bản sau:  + Tìm số trung bình cộng. + Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó + Giải bài toán có nội dung hình học về cách tính chu vi, diện tích của một hình. + Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó.  + Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số kia.  + Giải bài toán tìm phân số của một số, bài toán liên quan đến biểu trang bị, ứng dụng của tỉ lệ bản đồ gia dụng, toán trắc nghiệm,... Ngoài ra trong tất cả các bài đều có những bài toán có lời văn ứng dụng kiến thức trong bài kia. Để các em biết cách giải khoa học và có cách thức,... Giáo viên cần định phía, dẫn dắt các em trong quá trình giải bài bác. Vậy muốn giúp học sinh có được kỹ năng thực hiện các bước giải bài toán có lời văn như bên trên. Tôi đã hướng dẫn học sinh thực hiện theo các bước sau: Bước 1: Rèn kỹ năng đọc đề tân oán Bước 2: Rèn kỹ năng tóm tắt đề tân oán Bước 3: Rèn kỹ năng phân tích đề toán để tìm cách giải Bước 4: Rèn kỹ năng trình bày bài giải và thử lại kết quả * Biện pháp 2: Rèn khả năng tự đặt được các đề toán mới tương từ bỏ các đề toán đã giải Giáo viên rèn cho học sinh có thói quen tự đặt các đề toán mới tương tự các đề toán đã giải như: ­ Thay số liệu bài toán thù. Có thể tăng hoặc giảm số liệu của bài toán thù nhưng vẫn giữ nguyên yêu cầu của bài toán thù. ­ Thay đổi các đối tượng bài toán thù. Chẳng hạn có thể thay hình chữ nhật bằng hình bình hành, hình vuông bằng hình thoi, ... 2 Ví dụ: Một hình chữ nhật có chu vi 90m, chiều rộng của hình chữ nhật là 15m. Tính diện tích của hình chữ nhật đó. + Có thể thay đổi đề bài trên thành hình bình hành và có bài toán như sau: * Chu vi của một hình bình hành là 90m, chiều cao của hình bình hành là 15m. Tính diện tích của hình chữ nhật đó. ­ Thay đổi cả đối tượng lẫn số liệu từ đề bài bên trên. Ví dụ: Một mảnh đất trồng hoa hình bình hành có độ dài đáy 40 dm, chiều cao 25 dm. Tính diện tích mảnh vườn đó . ­ Thay đổi các từ chỉ quan hệ trong bài toán thù. 1 Ví dụ: Một người bán 280 quả cam và quýt, trong đó số cam bởi số  2quýt. Tìm số cam, số quýt đã bán ? * Mẹ em hái được 280 quả cam và quýt, biết rằng số quýt gấp đôi số cam. Tính số cam, số quýt mẹ đã hái? ­ Tăng số đối tượng trong bài toán.  Ví dụ: Một cửa hàng bán gạo trong 3 ngày. Ngày trang bị nhất bán được 240 kg gạo. Ngày thứ hai bán được nhiều hơn ngày thứ nhất 80 kg. Ngày thứ ba bán được một nửa của số gạo ngày thứ tốt nhất. Hỏi cả ba ngày cửa hàng đó bán được bao nhiêu ki­lô­gam gạo ? ­ Thay câu hỏi đó cho bằng một câu hỏi khác rộng. Vẫn từ 1 đề toán. Ví dụ: Một cửa hàng bán gạo trong 3 ngày. Ngày thiết bị nhất bán được 240 kg gạo. Ngày thứ hai bán được nhiều hơn ngày thứ nhất 80 kg. Ngày thứ ba bán được một nửa của số gạo ngày thứ tuyệt nhất. Tính số gạo của cửa hàng đã bán ? * Biện pháp 3: Rèn khả năng trường đoản cú đặt các bài toán ngược lại với bài bác toán đã giải Để tiếp tục khắc sâu cho học sinh về bài toán có thể đặt một đề toán tương từ cho học sinh giải. Chỉ thay đổi số liệu, đối tượng của bài (Chẳng hạn: Thay hình chữ nhật bằng hình vuông). Hoặc thay đổi cách đặt câu hỏi.  Ví dụ: Cho hình chữ nhật ABCD có chiều dài 12centimet. Nếu tăng chiều lâu năm thêm 4cm và giữ nguyên chiều rộng thì diện tích tăng thêm 24 c mét vuông. Tính diện tích hình chữ nhật ABCD. Cho hình chữ nhật ABCD có chiều dài 12cm. Nếu tăng chiều dài thêm 4cm thì được hình chữ nhật mới. Tính diện tích hình chữ nhật mới biết diện tích tăng thêm là 24 cm2. Và cuối cùng là đặt đề toán ngược lại với bài đã giải để học sinh giải: VD: Cho hình chữ nhật ABCD có diện tích là 72 cmét vuông, chiều dài 12centimet. Hỏi phải tăng chiều dài thêm bao nhiêu xăng­ti­mét và duy trì nguyên chiều rộng để được hình chữ nhật mới có diện tích là 96 cm2? 3 Ví dụ: Lớp 4A quyên góp được 33 quyển vlàm việc, lớp 4B quyên góp được 28 quyển vở, lớp 4C quyên góp được 35 quyển vngơi nghỉ. Hỏi trung bình mỗi lớp quyên góp đươc bao nhiêu quyển vở ?  Có thể hướng dẫn học sinh đặt đề toán ngược lại với bài toán trên khi học sinh đã giải như sau:  Nhà trường phát động học sinh của ba lớp 4 quyên góp ủng hộ tủ sách tlỗi viện. Biết rằng trung bình mỗi lớp trong 3 lớp đó quyên góp 32 cuốn sách, trong đó lớp 4A quyên góp được 33 quyển sách và nhiều hơn lớp 4B 5 quyển sách, lớp 4B quyên góp ít hơn lớp 4C 7 quyển sách. Hỏi số sách cụ thể của mỗi lớp quyên góp vào thư viện bao nhiêu quyển sách ? * Biện pháp 4: Giáo viên làm tốt công tác phối hợp với phú huynh học sinh: Song song với việc rèn cho học sinh có khả năng giải toán có lời vnạp năng lượng, tôi luôn làm tốt công tác tuyên truyền kết hợp với phụ huynh, trao đổi cùng với từng phú huynh cùng quan tâm tới việc học tập, chuẩn bị bài học và các đồ dùng có liên quan tới cỗ môn, đồng thời động viên prúc huynh tạo cho học tập sinh tâm lý thích thú học môn toán và hỗ trợ kiểm tra kiến thức các em thông qua các bài học tập. 2. Hiệu quả : Qua 1 năm áp dụng và thực hiện nay, các em không còn lúng bí, ngỡ ngàng khi giải toán có lời văn, các em đã ham thích môn Toán và say sưa với tất cả các dạng toán. Các em hứng thú và tự tin hơn, không còn lo sợ khi học toán và có khả năng giải toán có lời văn rất xuất sắc. Từ kết quả khảo sát đầu năm học cho đến cuối năm học đã thay đổi rõ rệt. *Khi tôi chưa vận dụng sáng loài kiến, chất lượng khảo sát đầu năm học 2015 ­ 2016 lớp tôi dạy còn rất thấp: TS HS Điểm 9 ­ 10 Điểm 7 ­ 8 Điểm 5 ­ 6 Điểm dưới 5 Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ lượn lượng lượng lượng g 26 1 3,85 % 3 11,5 % 12 46,15 10 38,5  % % *Sau khi vận dụng sáng kiến, đến cuối năm học kết quả của môn Toán đạt được như sau:  TS HS Điểm 9 ­ 10 Điểm 7 ­ 8 Điểm 5 ­ 6 Điểm dưới 5 Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ lượn lượng lượng lượng g 26 9 34,7 % 12 46,2 % 5 19,1 % 0 0 % * Ngoài chương trình học môn Toán chính khóa ra học sinh tham gia thi giải toán trên mạng Internet cũng được góp phần thể hiện nâng cao chất lượng: 4 Năm học tập Số HS tham gia Số HS đạt giải  cấp trường2014 ­ 2015 (khi chưa áp dụng sáng 2/26 ­ 7,7% 0kiến)năm ngoái ­ năm nhâm thìn (khi vẫn vận dụng sáng 8/26 ­ 30,8% 6/26 ­ 23,1%kiến) 3. Khả năng và các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng loài kiến * Khả năng: Sáng kiến “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 có khả năng giải tốt các bài toán có lời văn” có khả năng áp dụng rộng rãi ở các khối lớp trong các trường tiểu học.  * Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: ­ Đối với giáo viên: + Phải có lòng yêu nghề, mến tphải chăng, nắm vững chương trình và khối loài kiến thức môn Toán ở tiểu học tập. + Tích cực học hỏi, trao đổi kinh nghiệm với bạn bè đồng nghiệp để tìm cho mình cách dạy tốt độc nhất. + Đọc tìm hiểu thu thập các tài liệu chỉ đạo chuyên môn về chương trình tiểu học mới. + Có thể tích lũy những kinh nghiệm thực tế để tìm hiểu tâm lý trẻ. + Thường xuyên tham gia các buổi sinh hoạt chuyên môn, các siêng đề có liên quan để quá trình giảng dạy và học tập đạt hiệu quả cao. ­ Đối với học sinh: + Cần chuẩn bị trước bài toán ở nhà, tìm hiểu nội dung, kiến thức phải cung cấp của bài sẽ học. + Thường xuyên rèn kỹ năng tính tân oán, giải toán, ôn lại cách giải các dạng bài tương từ bỏ đã học tập, hệ thống lại các kiến thức có liên quan trực tiếp đến cách giải các bài tập đó. Tự làm bài theo khả năng của bản thân. + Biết hỗ trợ lẫn nhau giữa các chúng ta, các đối tượng học sinh trong lớp. + Có thói quen tự kiểm tra, đánh giá kết quả tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề của bài học và bài luyện tập thực hành. Biết vận dụng kiến thức new học để giải quyết các bài tập. + Luôn tìm hiểu thêm các dạng toán bồi dưỡng, toán nâng cao, toán tuổi thơ phù hợp với khối lớp và lứa tuổi của mình đang học tập. 4. Thời gian tổ chức áp dụng sáng con kiến Sáng kiến: “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 có khả năng giải tốt các bài xích toán có lời văn” đã đưa vào áp dụng trong năm học 2015 ­ 2016 và có hiệu quả cao. Sáng kiến này do cá nhân tôi là giáo viên chủ nhiệm và học sinh lớp 4B, trường tiểu học Duyệt Trung ­ Thành phố Cao Bằng tham gia thực hiện nay.  Trong năm học: 2016 ­ 2017, bản thân tôi đã chuyển nơi công tác đến trường Tiểu học Ngọc Xuân đang tiếp tục vận dụng sáng kiến trên. V. Kết luận  5 Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân tôi đúc kết được trong dạy tân oán. Bước đầu tôi đã áp dụng cho lớp học của mình có hiệu trái rất thiết thực và sẽ áp dụng tiếp trong những năm cho tới. Vấn đề giải toán có lời văn là vấn đề rất rộng mà trong phạm vi hạn hẹp của sáng kiến kinh nghiệm vẫn chưa thể hiện hết được. Qua đây chỉ là một số kinh nghiệm bé dại trong vốn kinh nghiệm dạy học của tôi mà trong quá trình giảng dạy bản thân đã rút ra được. Vậy tôi mạnh dạn đưa ra để đồng nghiệp tham khảo vận dụng. Trong quá trình thực hiện, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các đồng chí đồng nghiệp để giúp học sinh có những giờ học toán đạt được chất lượng cao. Cao Bằng, ngày 08 tháng 4 năm 2017 Người viết Đoàn Thị Quỳnh 6 7

Chuyên mục: Thư Viện Đề Thi