Hỏi Đáp

Phân tích tác phẩm Bình Ngô đại cáo – Trường THPT Sóc Trăng

Phân tích bình ngô đại cáo lớp 10

Video Phân tích bình ngô đại cáo lớp 10
<3<3

Các bạn đang xem: Phân tích tác phẩm tự sự

Tôi. Đề cương phân tích công việc của người kể chuyện (Tiêu chuẩn)

1. Lễ khai trương

– Vài nét về tác giả nguyễn trãi. – Giới thiệu tác phẩm binh ngô đại cao.

2. Văn bản:

Một. Ngữ cảnh sáng tác (sách giáo khoa):

b. Luận điểm đúng:– Tư tưởng nhân đạo: Những quan điểm mới, tiến bộ của nguyễn trải: Nhân nghĩa gắn liền với yêu thương con người, yêu hoà bình và yêu nước sâu sắc. xác thực. -Nền độc lập, chủ quyền của nước Đại Việt ta từ bao đời nay đã có từ bao đời nay,… (Còn tiếp)

>>Xem tổng quan chi tiết về phân tích công việc tại đây.

Hai. Bài luận mẫu phân tích tác phẩm của tác giả (Chuẩn)

1.Phân tích tác phẩm Người kể chuyện, Mẫu số 1 (Chuẩn):

2.Phân tích tác phẩm Người kể chuyện, Mẫu số 2 (Chuẩn):

Nguyễn Trãi không chỉ là nhà quân sự tài ba của dân tộc mà còn là nhà thơ, nhà văn chính luận xuất sắc trong nền văn học trung đại Việt Nam với nhiều tác phẩm chữ Hán và chữ Hán đặc sắc. Đặc biệt nói đến các học thuyết chính trị của Nguyễn Chí phải kể đến “Cỏ vật” – tác phẩm được Nguyễn Chíh viết theo lệnh của Lê Lai sau khi kháng Nhật cứu nước kết thúc. Tác phẩm này đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc và được coi là bản “Tuyên ngôn độc lập của Tổ quốc lần thứ hai”.

Đại cáo ngô đồng của Nguyễn Trãi được viết theo thể cáo – một thể loại văn cổ có nguồn gốc từ Trung Quốc, với bố cục và kết cấu cô đọng. Ở phần đầu của báo cáo, tác giả Ruan Ze đã đưa ra những lập luận công bằng làm cơ sở tư tưởng cho toàn bộ báo cáo của mình.

Từng nghe nói: nhân nghĩa trước an lành, sau mới đến hung ác

phan tich tac pham binh ngo dai cao cua nguyen trai

Phân tích tác phẩm bằng dàn ý chi tiết

Chỉ bằng hai câu mở đầu bài báo, tác giả đã đưa ra một khái niệm xuyên suốt bài báo, đó là bản chất con người – một phạm trù tư tưởng xuất phát từ Nho giáo, được dùng để thể hiện cách ứng xử và mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người. Trong trường hợp của Ru-an, tư tưởng nhân văn ấy bắt nguồn từ tư tưởng “yên dân”, “trừ bạo”. Có thể nói, đây là cơ sở nền tảng xuyên suốt toàn bộ báo cáo, xuất phát từ quan điểm hướng về nhân dân, bắt nguồn từ lòng yêu nước thương dân, vì dân lật đổ bạo quyền, đánh đuổi quân xâm lược. Đồng thời, cũng trong phần mở đầu của báo cáo, tác giả Nguyễn Trãi cũng đã đưa ra chân lý độc lập, khách quan, đặt cơ sở lý luận vững chắc cho việc khẳng định nền độc lập dân tộc, đồng thời chỉ ra những ý chính của quan điểm. bài báo cáo.

Ví dụ, trước đây nước ta tự xưng là nước có nền văn hiến lâu đời. Quy luật mạnh và yếu thay đổi theo thời gian, nhưng nó tồn tại từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Tuy chỉ có một đoạn văn ngắn nhưng dường như tác giả Nguyễn Thi đã tái hiện một cách chân thực và rõ nét truyền thống vẻ vang hàng nghìn năm của dân tộc. Trước hết, đất nước ta có hàng nghìn năm văn hiến và phong tục tập quán từ bắc chí nam. Đồng thời, đất nước của tôi cũng là một quốc gia có biên giới và lãnh thổ riêng, được mọi người công nhận. Đặc biệt, tác giả so sánh triều đại phong kiến ​​nước ta với triều đại phong kiến ​​phương Bắc, so sánh triều đại ta và dân tộc ta với triều đại phong kiến ​​phương Bắc, đây không chỉ là cơ sở của nền độc lập mà còn là biểu hiện của lòng tự hào. và niềm tự hào dân tộc của tác giả Nguyễn Trãi. Hơn thế nữa, để khẳng định sự thật khách quan về nền độc lập của nước ta, tác giả còn tái hiện những chương lịch sử vẻ vang, hào hùng của quân và dân ta ở núi rừng năm xưa và những trang sử trước với những chiến công vang dội.

Cứu công và nhập công, nên nếu thất bại, hàng triệu đồng lãi lớn sẽ bị tiêu tan.Hơn nữa, xuất phát từ những lí do đã nêu, trong phần tiếp theo của bản tường trình, tác giả Nguyễn Trãi đã chỉ ra một cách sâu sắc tội ác man rợ, dã man của kẻ thù. Trước hết, tác giả vạch rõ âm mưu xâm lược nước ta của kẻ thù.

Người sắp gây loạn, người trong nước oán hận.

Như vậy, tác giả đã vạch rõ âm mưu xâm lược của kẻ thù cho người đọc chỉ trong 4 câu. Lợi dụng tình thế loạn lạc của nước ta dưới sự thống trị của tộc He, quân Minh tiến vào thực hiện âm mưu xâm lược nước ta dưới chiêu bài “diệt giang hồ”. Hơn nữa, không chỉ vạch rõ âm mưu xâm lược của kẻ thù, tác giả Nguyễn Thị còn tố cáo, chỉ rõ hành vi, tội ác man rợ của kẻ thù trên hầu hết các lĩnh vực bằng ngôn từ sinh động. Tội ác đầu tiên của giặc Minh như tác giả Nguyễn Trãi đã nêu là tàn sát người dân vô tội.

Ngọn lửa thiêu sống dân đen, chôn vùi những đứa trẻ đỏ hỏn trong hố sâu

Tác giả sử dụng thủ pháp đảo ngược và sử dụng những hình ảnh tượng trưng để phác họa rõ nét sự giết chóc dã man, dã man của kẻ thù. Ngay cả “dân đen”, “thằng đỏ” – những người vô tội, họ cũng không lùi bước. Tất cả điều này cho thấy hành vi giết người dã man của kẻ thù. Ngoài ra, chúng còn giết hại bừa bãi những người dân vô tội, đẩy những người áo đen ấy vào nơi rừng thiêng nước độc, hiểm nguy, một khi bước chân vào thì không biết bao giờ mới về.

Người bị bắt xuống biển mò ngọc trai, chán cá mập, người bị đưa lên núi tìm vàng, khốn khổ rừng thiêng nước độc.

Đồng thời, tội ác của địch còn thể hiện ở chính sách thuế khóa nặng nề, vô lý của nước ta, chính sách hủy hoại môi trường sống, cảnh quan thiên nhiên, hủy hoại cuộc sống của hàng nghìn người và động vật.

Sưu thuế nặng nề, trong sạch, không có núi non… Cướp bóc của vật, săn bắt chim chóc, nơi người hành hạ dân chúng, bẫy nai đen, bẫy ngải.

Xem Thêm : Ngựa máy lạnh là gì? Cách nhận biết máy lạnh bao nhiêu ngựa chính xác

Vì vậy, đoạn thứ hai của bản tường trình, thông qua hàng loạt hình ảnh hiện thực và tượng trưng, ​​như một bản cáo trạng hùng hồn, trong đó tác giả Ruan Ze đã miêu tả rõ ràng tội ác và hành động của tác giả. Những kẻ xâm lược là đáng sợ và đáng sợ. Sau đó, tác giả tổng hợp tất cả những tội ác này trong một câu thơ chung chung và tượng trưng. Đồng thời qua những câu thơ này ta cũng thấy được sự căm phẫn tột độ của tác giả.

Điều độc ác là Nanshanzhu không nhớ bất kỳ tội ác nào.

Không chỉ vạch rõ tội ác của kẻ thù, tác phẩm “Nồi ngô” của Nguyền Tí còn tái hiện một cách chân thực và sâu sắc quá trình chiến thắng của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến. .Mở đầu đoạn văn là hình ảnh một vị tướng, một dũng tướng:

Tôi đây:

Dãy núi xanh có nghĩa là nơi tôn nghiêm

Đại từ “ta” được đặt ở đầu đoạn văn như một lời khẳng định, thể hiện rõ xuất thân, xuất thân, gia cảnh, xuất thân của người anh hùng. Xuất thân từ quần chúng nhân dân, có lẽ hơn ai hết hiểu rõ những gian khổ của kẻ thù, và cả lòng căm thù giặc sâu sắc- “Lòng căm thù giặc thề không cùng sống”. Nhưng người anh hùng ấy không chỉ có lòng căm thù giặc sâu sắc mà trong lòng còn chất chứa nhiều tâm tư “đau lòng”, “nếm mật nằm gai”, “cả giận quên mất”. Sau khi đẩy lùi quân xâm lược, cuối cùng người anh hùng đã phát động khởi nghĩa, bằng tất cả niềm tin và sự đấu tranh kiên cường của mình, ông đã góp phần làm nên thắng lợi cuối cùng của quân và dân ta. Tuy nhiên, không chỉ tái hiện chân dung của Thủ tướng, đoạn thứ ba của phóng sự còn tái hiện những gian khổ và chiến công oanh liệt mà quân và dân ta đã trải qua. Trước hết, buổi đầu khởi nghĩa, quân khởi nghĩa của ta gặp rất nhiều khó khăn, thử thách về nhân lực, vật lực. Đó là những ngày quân giặc còn rất mạnh, tài năng của ta còn hạn chế “Nhân tài như lá mùa thu”, “dở khóc dở cười”… Tuân thủ đường lối đấu tranh đúng đắn “lấy chính nghĩa thắng hung tàn”, “thay bạo tàn”. có đức”, Quân khởi nghĩa chúng ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, lập nhiều chiến công oanh liệt. Tác giả kết thúc đoạn 3 của bài tường thuật với giọng điệu đầy tự hào khi tái hiện lại vẻ vang về những chiến công liên tiếp của nghĩa quân trước quân xâm lược. Khởi đầu của những chiến công này là chiến thắng trước Borden, Chalan, sau đó là Quanchenzhi, Shantao, Lean và các khu vực khác, lần lượt giành được một loạt chiến thắng.

Ngày 18, trận Chilang, thất bại cây liễu ngày 20, trận Ma’an, sáu trận thắng, tử trận thứ nhất Ngày 25, thất bại của Liang Mingbo, tử trận của bộ trưởng và người kế vị của ông vào ngày 28 tự sát.

Vì vậy, trong phần ba của phóng sự, tác giả Nguyễn đã tái hiện một cách chân thực và sâu sắc hình ảnh Tướng quân Lê Lai và những khó khăn mà quân khởi nghĩa của ta gặp phải trong những ngày đầu Kháng chiến. Chiến thắng của quân và dân ta trong cuộc chiến tranh gian khổ đó. Đặc biệt, quân khởi nghĩa của ta sau khi giành thắng lợi đã cung cấp ngựa, thuyền, lương thực cho địch để chúng rút chạy. Những việc làm đó của quân ta một lần nữa đã chứng minh cho những tư tưởng, lý lẽ đúng đắn mà nghĩa quân ta suốt đời theo đuổi. Sau đó, trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã trình bày, phần cuối cùng của báo cáo là lời tuyên bố độc lập và hòa bình của dân tộc.

Cộng đồng phát triển bền vững từ đây, đổi mới từ đây… gần xa ai cũng giỏi báo cáo

Bản tuyên ngôn của Nguyễn Trãi được tuyên bố hùng hồn và vang dội trước mọi người. Bản tuyên ngôn không chỉ là lời khẳng định nền độc lập dân tộc, hòa bình, thống nhất mà còn thể hiện lòng ngưỡng mộ, niềm tin vào một ngày mai tươi sáng, tốt đẹp hơn của đất nước bước vào thời kỳ mới.

Tóm lại, “Bình ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi không chỉ là một văn kiện lịch sử mà còn là một bản chính luận sâu sắc, trong đó yếu tố chính luận và trữ tình được kết hợp nhuần nhuyễn. . Mặc dù lịch sử đất nước đã trải qua một thời kỳ phát triển lâu dài nhưng giá trị và ý nghĩa to lớn của báo cáo vẫn không hề thay đổi.

3. Phân tích tác phẩm Người kể chuyện, Mẫu số 3:

Trên đây chúng tôi đã giới thiệu bài phân tích tác phẩm Con chim công lớn, ngoài ra nếu muốn hiểu hết giá trị của con công có thể tham khảo thêm tại: Phóng sự về cảm nghĩ anh hùng >, phân tích đoạn 1, 2 lọ đại cao, Phân tích tư tưởng nhân đạo của Nguyễn trong lọ ngô đại cáo, phân tích tư tưởng nhân đạo của Nguyễn trong lọ ngô đại cáo.

Nếu bài “Sông nước Nam” có hiệu lực như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc, thì “Bình ngô đại cáo” của Nguyễn Thiếp được coi là “Thiên cổ anh hùng ca”. độc lập, chủ quyền của nước ta. Đây là tác phẩm nhìn chung mang những đặc điểm cơ bản của thể loại cáo, nhưng cũng có những nét sáng tạo riêng của tác giả.

Sau khi quân ta đánh bại quân xâm lược nhà Minh, Ruan Ze được lệnh của Li Lai viết tác phẩm “Pan’ao Big Grass”. Được công bố vào tháng 12 năm 1428, báo cáo này nhằm mục đích tổng kết quá trình đấu tranh chống quân xâm lược, bảo vệ đất nước và tuyên bố độc lập dân tộc. Phóng sự là một thể loại văn chính luận, là một lối văn nghị luận ở Trung Quốc từ xa xưa, thường được các vua chúa, quan sử dụng để tường trình chính sách, sự nghiệp hoặc thông báo, điều này ai cũng biết. Đặc trưng cơ bản của thể loại này là văn xuôi hoặc văn vần, nhưng phần lớn cáo đều là văn xuôi, sử dụng câu đối, độ dài tuỳ ý. “Kế hoạch vĩ đại” là một bản báo cáo có bố cục chặt chẽ, lập luận sắc bén, giọng điệu sôi nổi, ngôn từ hùng hồn. Bố cục của báo cáo được chia thành bốn phần: phần đầu, tác giả nêu luận điểm, tức là những tư tưởng nhân văn của tác giả; phần thứ hai, nội dung chính là tội ác không thể tha thứ của kẻ thù; một phần là bản tuyên ngôn của chiến thắng, một sự khẳng định chủ quyền, vị thế của dân tộc.

Giặc nước ta là minh tinh, nhưng nhan đề báo cáo là “pan ngo dai cao”, thể hiện dụng ý và dụng ý nghệ thuật của tác giả. Thuật ngữ “ngô” dùng để chỉ Chu Nguyên Chương, trước đây được gọi là Chúa Ngô, dấy binh ở Giang Tô, đồng thời ám chỉ cuộc xâm lược nước ta của nhà Ngô thời Tam Quốc và Bắc Triều. Nhân dân ta gọi chúng là bọn cướp ngô với sự khinh bỉ và căm ghét. Tên sách “Cỏ liệu” hàm ý tuyên bố khí thế quyết thắng dẹp giặc ngô và cả dân tộc đánh tan kẻ thù tàn ác.

Phóng sự mở đầu bằng tư tưởng nhân nghĩa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo:

“Nhân nghĩa là gốc rễ của an dân, an dân là ở trước bạo.”

“Nhân” là quyền nghĩ cho người khác, hành động vì người khác, đấu tranh bảo vệ sự sống của con người. Chỉ khi nhân dân được sống ấm no, hạnh phúc thì đất nước mới phát triển bền vững. Vì vậy, người đứng đầu nhà nước phải tính đến “an dân”, “trừ bạo” để xoa dịu nội xâm và bè lũ tay sai nhằm bảo vệ cuộc sống của nhân dân. Tư tưởng nhân nghĩa mà Nguyễn Trãi nói đến là phải diệt trừ tư tưởng trị vì cho dân, đấu tranh quyết liệt để bảo vệ lãnh thổ, bởi vì:

“Giống như nước Đại Nhạc trước chúng ta, nghe nói có nền văn minh lâu đời, núi sông chia cắt nam bắc, phong tục nam bắc cũng khác nhau. Định, Các đời Lý, Trần độc lập với Hán, Đường, Tống, đường nào cũng xưng độc lập, luật pháp có lúc mạnh, lúc yếu, luôn có thầy phù thủy.”

Bài văn phân tích tác phẩm đại cáo hay nhất

Nền văn hiến Đại Việt ta có từ lâu đời, có bờ cõi riêng, phong tục tập quán độc đáo, có bề dày lịch sử sánh ngang với các triều đại phong kiến ​​phương Bắc. So sánh các triều đại Bạch Loan, Đinh, Lý, Trần với các triều đại Hán, Đường, Tống, Nguyên của Trung Quốc, chúng ta có thể thấy rằng dân tộc ta cũng có sức mạnh của mình, không phải là một quốc gia nhỏ bé, tầm thường. Các từ “đầu”, “du”, “fen” đều minh chứng cho sự tồn tại và phát triển không thể chối cãi của nước ta trong lịch sử. Nó khiến chúng ta tự hào về đất nước của chính mình – một đất nước được xây dựng bởi những con người hiền lành, cần cù, chân chất và có lòng yêu nước sâu sắc. Các triều đại trong lịch sử tuy có phân ra mạnh yếu, nhưng thời nào cũng có những bậc anh hùng anh dũng, chí công cứu nước. Nhờ họ mà quân xâm lược bị thất bại thảm hại:

“Cứu cung điện đã bị thối nát và thất bại. Hàng triệu đô la đã bị mất. Bằng chứng về tội bắt Daosombach trong xe hơi và giết chết Ou Ma vẫn còn tồn tại.

Các tướng lĩnh phương bắc đều bị các anh hùng liệt sĩ nước ta “giết” và “bắt sống” để rồi nhận lấy cái kết bi thảm. Những cuộc chiến tranh đó đã đi vào lịch sử như một minh chứng muôn thuở. Giặc thì “ham vui”, “tham công tiếc việc” muốn nhanh chóng thôn tính nước ta, “dễ diệt vong” là điều khó tránh khỏi. Sức mạnh của quân dân ta đã tiêu diệt bọn xâm lược gian ác, ác ôn. Tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Trãi được thể hiện với giọng điệu hào hùng, các phép đối hài hoà thể hiện niềm tự hào dân tộc, niềm tin vào sức mạnh của một đất nước nhỏ bé nhưng vô cùng kiên cường.

Tội ác của giặc đã được tác giả viện dẫn như một bản cáo trạng, dẫn chứng xác đáng. Địch Minh đã lợi dụng điều kiện hồ nước lúc bấy giờ để “bắt cá trong bùn” để thực hiện âm mưu thâm độc của mình:

Xem Thêm : Khám bệnh tiếng Anh là gì – Khám chữa bệnh tiếng anh là gì

“Lòng người lo lắng, lòng người oán hận. Quân điên nhân cơ hội làm điều ác, kẻ ác phản nước cầu vinh.”

Triều đình của Lãnh chúa bên hồ hỗn loạn và náo loạn. Lợi dụng đội quân đông đảo này xâm lược nước ta, bọn gian ác trong nước âm mưu phản nước, mưu cầu phú quý, dân hèn không đứng lên chống giặc.

Quân đội buộc nhân dân ta phải sống trong cảnh bần hàn, khốn cùng, hiểm nguy luôn đe dọa sự sống còn:

“Người đàn ông mặc đồ đen là một ngọn lửa, và cậu bé áo đỏ là một thảm họa. Dối trá lên trời, lừa người hàng ngàn lần, chiến tranh hoành hành, và những bất bình và bất bình đã hoành hành trong hai mươi năm, mọi người buộc phải mò ngọc dưới biển, mỏi tay với cá mập, dẫn người lên núi đãi vàng, bi ai, rừng sâu, nước độc… ngày mai dựng nhà, dựng đất, chân tay nào gánh nặng nổi ngọn núi, phá hủy toàn bộ ngành nông nghiệp.”

Chúng tàn ác vô nhân đạo, chúng làm mọi cách để thôn tính nước ta. Nhân dân lao động bị bóc lột, tàn sát bằng những thủ đoạn xảo quyệt, họ thật đáng thương và vô tội. Hành vi của quân xâm lược rất dã man, chúng “nướng” dân đen trên lửa để làm trò vui, hoặc “chôn” họ xuống hố sâu để thỏa mãn sự tàn ác của chúng. Họ giải trí với cuộc sống của nhân dân ta. Điều gì có thể tàn nhẫn hơn thế này? Giặc không chỉ bóc lột nhân dân ta bằng thuế má, mà còn cướp đoạt mọi sản vật quý hiếm của nước ta để thỏa mãn lòng tham vô đáy của chúng. Dân tộc ta buộc phải xuống biển mò ngọc trai, lên núi đãi vàng, lại còn phải đối đầu với cá mập, cá mập và nhiều loài thú dữ khác, hay sự thử thách khắc nghiệt của vùng rừng thiêng nước độc. . Họ đặt lưới và bẫy, săn chim để lấy quần áo và đệm, và săn hươu đen để làm thuốc bổ. Ngay cả thực vật họ cũng không bỏ qua. Chúng “diệt cả nấm sâu”, bắt dân ta phải cất nhà, đắp đất, “tán gia bại sản” mà “mỡ máu không đầy”. Mặc dù vậy, sự bóc lột tàn bạo không đủ để thỏa mãn lòng tham của họ. Gia đình tan nát, người chết, dẫn đến cảnh “tiểu nhân”, vợ tang chồng bỏ cha, v.v., tội ác của kẻ thù, ngay cả thiên hạ cũng không dung thứ được, “Nam Sơn Trụ không ghi hết tội ác”, “ Nước biển Đông rửa không sạch hôi tanh”. Sự bao la vô biên của Nam Sơn Châu và Vương quốc Đông Hải không thể so sánh với sự tàn bạo của quân xâm lược nhà Minh đã “chiến đấu và kết thù” trong 20 năm. Tác giả tố cáo tội ác của kẻ thù một cách căm thù, căm thù sâu sắc bằng cách liệt kê, cường điệu, câu hỏi tu từ “lực bất tòng tâm” và những hình ảnh vừa khái quát vừa cụ thể.

Trước kẻ thù xâm lược, anh hùng Lê Lợi “vùng lên” lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn:

“Nếu nghĩ đến đại thù, làm sao có thể chống lại quốc thù, thề không cùng sống.”

Không thể chung mối căm thù với quân thù, Lý Lai đã phất cờ khởi nghĩa đấu tranh vì nước, vì dân. Và “cờ đang phất” lại trùng với lúc “giặc đã mạnh”. Thêm:

“Người tài như sao mai, kẻ hiền tài như chiếc lá mùa thu, Một mình chạy trốn nơi hoang vắng”.

Khởi đầu khởi nghĩa, anh hùng gặp muôn vàn khó khăn, giặc nhiều mà nhân tài ít. Có rất nhiều tài năng, rất ít binh lính và rất nhiều lương thực. Khó khăn muôn vàn nhưng tướng sĩ vẫn “vượt khó”, chỉ cần nhân dân bốn phương đồng lòng, đồng lòng thì khởi nghĩa nhất định thắng lợi. Không có cờ, quân dân ta dùng tre làm cờ, cũng không có nhiều rượu để khích quân, Lý Lai rót rượu xuống sông, rủ quân sĩ tay trong tay uống “rượu ngọt”.

Lý Lai không chỉ tập hợp, đoàn kết ta mà còn biết bày mưu lược, “yếu thắng cường”, “thù ít, địch nhiều”. Nhưng quan trọng nhất, Lê Lợi luôn đề cao quan niệm nhân nghĩa:

“Bạo thay ngược bằng nhân, thay bạo bằng nhân”.

Với ý chí kiên cường, vượt qua mọi khó khăn và tinh thần chiến đấu bất khuất, quân khởi nghĩa đã giành thắng lợi vang dội:

“Đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo. Bồ Ðang sấm sét đánh trận, nương trà chẻ tre. Sĩ khí càng mạnh. Thanh cũng càng mạnh. Trần tri, trai thơ nghe. Tôi mất hồn, ly một hướng chính, nín thở tìm lối thoát Thắng lâu truy kích ta thu Tây đô thu quân tiến công lấy lại cố hương ninh kiều máu chảy thành sông cá trôi nghìn li tụy xác chất đống bên trong, rác rưởi Phúc đức của giặc Trần hiệp phải vạch đầu giặc, giặc phải chết Vương Thông gỡ nguy mà lửa càng cháy, cứu trận mà quân ta càng hung.”

Khí thế và khí thế chiến đấu của quân ta khiến quân địch tan tác như tro tàn. Thấy vậy, Chen Zhi, Sun Tuo, Li An và bốn vị tướng chính của nhà Minh “thất thần” và “thở hổn hển bỏ chạy”, các tướng khác lần lượt đầu hàng. Các trận chiến ở Chilang, Ma’an và Shentai đã khiến các tướng lĩnh tự sát mà chết, “trói tay xin hàng” và “tháo chạy khắp nước”. Nguyễn Trãi đã miêu tả tinh thần chiến đấu của quân khởi nghĩa trong hai câu:

“Chiến tranh thế giới thứ nhất không có gì đặc biệt, nhưng chiến tranh thế giới thứ hai đã giết chết những con chim”.

Quyền lực ấy khiến “quan đại thần xin hàng”, các đô đốc ngừng tụ tập “dâng lễ vật”. Chiến thắng của quân ta làm cho “gió mây đổi màu”, “trời trăng phải mờ”, xác quân thù “đầy đường”, máu quân thù “đỏ sông”. Quân đội của chúng tôi đã đạt được một chiến thắng anh hùng đáng khâm phục. Từ một người bình thường xuất thân từ chốn “hoang vu”, chàng trai áo vest đã trở thành một vị tướng tài ba, có tài thao lược, dụng binh diệt giặc. Đặc biệt là vị tướng ban cờ ngựa, chỉ đạo chung, điều 500 chiếc thuyền vào hồ phò vua, ý chí sắt đá, vượt mọi khó khăn, làm việc thiện của ông cũng khiến chúng ta khâm phục. Hàng nghìn con ngựa về nước vẫn “cao chạy xa bay”, “tim đập chân run”. Họ không thể tin rằng những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa của nước ta sẽ mở ra cho họ một con đường sống, một lối thoát. Đây là “Kỳ công” của Lê Lai để cho nhân dân ta được “nghỉ ngơi” và duy trì hòa bình giữa hai nước.

Miêu tả cuộc chiến đấu của quân ta, tác giả đã sử dụng những động từ mạnh như “hồn xiêu phách lạc”, “tim đập chân run”, các tính từ “mặt đất đầy ga”, “máu chảy thành sông”, “nước đỏ”, “xác người nhuốm máu đen”, “mật vỡ kinh hoàng”… và thời gian, địa điểm diễn ra trận đánh nhằm nhấn mạnh sự thất bại tan nát của quân thù. gọi chúng là “lũ tuyên bố công đức”, “lũ hèn hạ, côn đồ.” Một thái độ mỉa mai đối với kẻ thù.

Phần cuối của báo cáo là lời khẳng định nền độc lập của đất nước:

“Xã hội từ nay trường tồn, đổi mới thế giới, sám hối nhật nguyệt, từ biệt thiên niên nhục, trong sạch trường tồn, thái bình vững chắc, cảm ơn trời đất, tổ tiên âm thầm ủng hộ ; chao ôi! Một áo nhung chiến thắng, nên muôn loài Tiếng vang khắp thiên niên, biển trời yên vui, phóng chiếu mới muôn nơi.

Giặc im tiếng, nước ta tiến hành công cuộc đổi mới. Đó là quy luật vận động và phát triển tất yếu của lịch sử – thịnh suy của mọi quốc gia. Khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi đã mở ra một kỷ nguyên mới ngày càng cường thịnh cho nước Đại Việt dưới sự trị vì của vua Lê Lai. Nhờ có “Trời Đất Tổ Trí, bí mật tương trợ” mới có được chiến công hiển hách như vậy. Sức mạnh to lớn, sự ủng hộ của thần thánh và sức mạnh của nghĩa quân lam sơn đã đánh đuổi quân thù, đất nước sạch bóng quân thù. Một đất nước có thể phát triển bền vững nếu có những chính sách đúng đắn để chăm lo đời sống của người dân.

“Bánh ngô đà sa” có bố cục chặt chẽ, câu văn hài hòa, giọng văn chính luận nhuần nhuyễn, không chỉ tố cáo tội ác của quân mà còn ca ngợi chiến thắng của cuộc kháng chiến. Lili dũng cảm. Nguyễn Trãi chủ trương “yên dân”, “trừ bạo”, hướng dân, để đất nước ngày càng phát triển.

Đăng bởi: thpt sóc trăng

Danh mục: Giáo dục

Nguồn: https://xettuyentrungcap.edu.vn
Danh mục: Hỏi Đáp

Vậy là đến đây bài viết về Phân tích tác phẩm Bình Ngô đại cáo – Trường THPT Sóc Trăng đã dừng lại rồi. Hy vọng bạn luôn theo dõi và đọc những bài viết hay của chúng tôi trên website Xettuyentrungcap.edu.vn!

Chúc các bạn luôn gặt hái nhiều thành công trong cuộc sống!

Related Articles

Back to top button