Hỏi Đáp

Phân tích nhân vật Thị trong Vợ nhặt (20 Mẫu) – Download.vn

Vợ nhặt nhân vật thị

Phân tích nhân vật Thị trong tác phẩm Chọn vợ của Kim uni tuyển chọn 20 bài văn mẫu hay và đạt điểm cao của các bạn học sinh xuất sắc. Thông qua bài văn mẫu này, các em sẽ biết được các bước và hướng giải quyết vấn đề nêu ra trong đề bài. Sau đó, so sánh bài văn của em dựa trên dàn ý chi tiết với bài văn mẫu này để rút ra bài học khi giải đề.

Các nhân vật trong “Nhặt con dâu” có vai trò quan trọng trong việc làm nổi bật chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Đồng thời, nó đóng vai trò then chốt trong việc định hình cốt truyện. câu chuyện. Thông qua nhân vật này, nhà văn thể hiện ý nghĩa nhân văn cao đẹp. Con người dù sống trong hoàn cảnh éo le nào cũng luôn nhìn về tương lai và không bao giờ mất niềm tin vào cuộc sống. Sau đây là 20 bài văn mẫu Tội nghiệpVợ chồng, mời các bạn cùng theo dõi.

Phân tích sơ đồ tư duy chọn vợ

Dàn ý phân tích nhân vật

I. Lễ khai trương

  • Giới thiệu sơ lược về tác giả Kim Lan: Là nhà văn giỏi viết truyện ngắn, am hiểu sâu sắc đời sống nông dân, thường quan tâm đến đời sống nông dân.
  • Vợ nhặt là một trong những truyện ngắn đặc sắc về người nông dân của ông. Nhân vật đóng vai trò lớn trong tiểu phẩm này chính là người vợ nhặt.
  • Hai. Nội dung bài đăng

    1. Bối cảnh

    • Không tổ quốc, không gia đình: Có thể thấy nạn đói năm 1945 đã khiến bao người phải xa Tổ quốc, xa gia đình.
    • Danh cũng không có, lấy danh mà “kén vợ”: thấy người đói.
    • 2. Chân dung

      – Ngoại hình: Rách rưới, tơi tả, gầy gò, mặt xám xịt, chỉ còn hai con mắt.

      – Lần 1: Nghe tiếng Đại tá reo hò, cô giúp đỡ, đó là sự hồn nhiên vô tư của người lao động nghèo.

      – Lần thứ hai:

      • Xiao Shi khinh miệt mắng cô, không chịu ăn trầu để ăn của quý. Khi được mời ăn, cô sà xuống ngay, mắt sáng lên và “ăn liền bốn bát bánh”.
      • Khi cô ấy nghe câu nói đùa “Anh sẽ về bên em”

        -Nhận xét: Cái đói không chỉ làm biến dạng hình dáng bên ngoài mà cả nhân cách con người. Người đọc vẫn dành sự cảm thông sâu sắc cho thị, bởi đó không phải là tự nhiên, đó là sự đói khát.

        3. Chất lượng

        – Có động lực mạnh mẽ để tồn tại:

        • Quyết định về làm vợ dù chưa biết đến tràng giang đại hải, chấp nhận hoặc về quê không cưới vì không phải sống đầu đường xó chợ.
        • Về đến nhà, thấy hoàn cảnh đáng thương của em, trái ngược với những gì em nói về việc “dằn mặt bố”, em lại “nín thở dài”.
        • – Cô ấy là một người ân cần và lịch sự:

          • Trên đường về, cô cũng ngại ngùng nấp sau hàng cột, khẽ cúi đầu, xấu hổ với vai trò vợ nhặt.
          • Khi cô ấy về đến nhà, mọi người bảo cô ấy ngồi xuống, cô ấy mới dám ngồi bên giường, hai tay ôm cái giỏ, điều này cho thấy địa vị của cô ấy trong gia đình vẫn chưa được thiết lập. /li>
          • Khi nhìn thấy mẹ chồng, ngoài chào hỏi, tôi chỉ biết cúi đầu “sờ gấu áo tả tơi”, trông rất xấu hổ.
          • Sáng sớm hôm sau, cô dậy dọn phòng, không còn vẻ “vui vẻ, luộm thuộm” mà dịu dàng, nhẹ nhàng.
          • Khi đang ăn cháo cám, thấy bà “mắt thâm quầng” nhưng bà vẫn bình tĩnh, tỏ ra cung kính, xét nét trước mặt mẹ chồng, khinh thường mẹ chồng buồn.
          • <3<3

            – Nêu cảm nhận chung của em về hình ảnh người vợ nhặt sau khi phân tích.

            Ba. Kết thúc

            • Tổng kết về giá trị nghệ thuật: xây dựng tình huống truyện độc đáo, xây dựng hình tượng nhân vật thành công, ngôn ngữ giản dị, tự nhiên…
            • Tác phẩm chứa đựng giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc: người đọc thấu hiểu, đồng cảm với thân phận nghèo khổ, bị rẻ rúng của người lao động trong nạn đói, tố cáo bọn thực dân, phát xít, ca ngợi cái đói khát, khát vọng sống trong cảnh nghèo khổ.
            • ………

              Xem thêm: Phân Tích Dàn ý Truyện Đón Con Gái

              Phân tích thị trường cho Vợ nhặt – Ví dụ 1

              Trong nền văn học hiện thực Việt Nam những năm trước cách mạng và những năm đầu sau Cách mạng tháng Tám, Kim Ranh là một trong những cái tên nổi tiếng nhất khi viết về đề tài giai cấp nông dân xã hội. Tuy số lượng tác phẩm hạn chế nhưng hầu như tác phẩm nào của Cam Ranh đều hay và có giá trị, là cơ sở để liệt nhà văn này vào một trong 9 nhà văn tiêu biểu nhất của văn học Việt Nam hiện đại. Điểm sáng và bắt mắt nhất trong các tác phẩm của Kim Lan chính là giọng văn nhẹ nhàng, gợi cảm, chủ yếu tập trung vào việc làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn con người và hướng đến lối thoát nhân văn cho kiếp người khốn khổ hơn là tập trung nhấn mạnh vào Hiện thực. của xã hội cũ khắc nghiệt và đau thương. Vợ nhặt được là một trong những tác phẩm nổi tiếng và hay nhất của kim lân, lấy bối cảnh trong ngày đau thương nhất của đất nước – nạn đói năm 1945. Nhân vật người vợ Trang là một trong những kiếp người đau khổ nhất. Cô ấy thối rữa, teo tóp và xấu xí trong mắt mọi người, nhưng khi tìm hiểu sâu hơn về nhân vật, chúng tôi thấy rằng cô ấy cũng có những phẩm chất tốt đẹp, đáng quý.

              Nhân vật của cô là một người phụ nữ không tên, không tuổi, không quê quán, không xuất thân, không gia đình, không ai biết cô đến từ đâu, cả cuộc đời trước khi gặp cô dường như chẳng có gì, chỉ là hồi ức. Cảnh khốn cùng của thị trấn nhỏ là tình cảnh chung của nhiều nông dân trong nạn đói lớn năm 1945, khi tính mạng con người bị coi rẻ như cọng rơm nhặt ngoài đường. Cô ấy không chỉ nghèo, không xuất thân, không danh vọng mà còn mang trong mình tất cả những bất hạnh của một người phụ nữ, cô ấy không có nhan sắc, cái nghèo lại càng khiến nhan sắc của cô ấy xấu xí hơn. Buồn hơn nữa, nàng trong “quần áo tả tơi như tổ đỉa”, “gầy gò hốc hác”, “trên chiếc lưỡi cày xám chỉ còn thấy hai con mắt”, rồi “bộ ngực lép nhô ra”, “hai con mắt trũng sâu”. cũng đủ thấy rằng bản thân chị cũng như biết bao người khác phải gánh chịu số phận bi đát của nạn đói khủng khiếp, đang bước những bước cuối cùng về nghĩa địa của cuộc đời.

              Cô ấy không có ngoại hình xinh đẹp nhưng cách ăn nói và hành vi của cô ấy cũng rất phản cảm. Nghe anh đọc vài câu chuyện tiếu lâm để an ủi tôi, tôi thấy có ý châm chọc, rồi ngập ngừng tiến lại chụp cái xe hàng, rồi nói câu “nhìn mà cười”. Tuy nhiên, sau khi đẩy xe đẩy xong, cháu không ăn được, gặp lại chợ rau, cháu chỉ thẳng mặt chửi: “Bố, đồ đồi bại”. Nghe hắn ăn “hai con mắt trũng chợ sáng ra”, tư thế thay đổi hẳn, thái độ cũng thay đổi hẳn. Sau đó cô cúi đầu ăn 4 bát bánh cuốn không nói một lời, ăn xong cô lấy đũa quệt miệng rồi “ừ” một tiếng. Quả thật, tôi chưa từng thấy một người phụ nữ nào có thể thoải mái, thậm chí vô ơn, hỗn láo, chiều chuộng trước một người đàn ông xa lạ mà tôi chỉ mới gặp hai lần. . Nạn đói làm cho tâm hồn và nhân cách con người trở nên rẻ rúng và thiểu não. Nhưng khi quan sát kỹ và nhìn hành vi của các nhân vật một cách nhân bản hơn, chúng ta nhận ra rằng trong thực tế, khi đối mặt với chết chóc, đói khát và viễn cảnh hàng triệu người chết, rất khó ai có thể bình tĩnh được. xuống và cư xử bình thường trước mặt họ. Không ai sợ chết, nàng cũng sợ chết, giờ phút này đối mặt với lưỡi hái tử thần nắm lấy cọng rơm, khát vọng sống sót của nàng lại hừng hực. Nàng liều mạng muốn có cơm ăn, cả đời vứt bỏ toàn bộ liêm sỉ, nhân cách, quyết không từ bỏ sinh mệnh nhỏ bé của mình. Cô ấy không chỉ có khát vọng sống sót mãnh liệt mà còn có khát vọng được hạnh phúc, có một gia đình và có một người chồng mà mình có thể dựa vào những lúc khó khăn như vậy. Thế là nửa đùa nửa thật nói: “Đùa đấy, anh về với em, anh cứ lấy hàng, lên xe về đi”, nhưng cô không ngần ngại nhận lời, trở nên chảnh chọe. người vợ dũng cảm. Với cô giờ đây, bàn tiệc, diễu hành không còn quan trọng, chỉ cần có nơi ở, có nhà, còn chống chọi với cái đói thì mọi chuyện có thể kết thúc. Thế là cô lại có hi vọng mới có thể thành vợ thành chồng, cô hy vọng người trước mắt vui vẻ, đãi cô bốn bát bánh, sau khi chung sống, anh sẽ đối xử tốt với cô, vậy là đủ. Ngoài ý nghĩa nhân văn, cuốn sách còn phản ánh một thực tế nhức nhối trong xã hội lúc bấy giờ: giá trị con người dường như đã tụt xuống mức tiêu cực, đến cả rơm rạ cũng không có, để dân làng mặc cảm. đó là “một loại bất hạnh” khi họ nhìn thấy chuỗi Mân Côi và đưa vợ về nhà.

              Tôi cứ nghĩ cô ấy sinh ra đã hung dữ, mập mạp và u ám, nhưng khi tôi nhìn thấy diện mạo của cô ấy sau khi làm vợ, tôi mới biết bản chất xấu xí và đáng sợ của cô ấy chỉ là vỏ bọc. Trên thực tế, để bảo vệ nạn đói, cô ấy cũng là một phụ nữ, với nhiều phẩm chất tuyệt vời ẩn giấu bên dưới vẻ ngoài đáng thương, tuyệt vọng. Trên đường lần tràng hạt về nhà, chị bỗng trở nên “rụt rè, rụt rè”, đầu cúi gằm, chiếc nón nghiêng che nửa khuôn mặt bẽn lẽn, như một cô dâu mới về nhà chồng. Khi bắt gặp những lời trêu chọc của lũ trẻ và ánh mắt ái ngại của dân làng, cô cảm thấy khó chịu và tủi thân cho số phận lấy chồng nên càng tủi thân “Xin lỗi chân nọ, bước lên chân kia”. trông vô cùng đau đớn. Khi đến nhà nguyện, khung cảnh nơi ăn chốn ở tạm bợ dột nát, không có bàn tay phụ nữ chăm sóc khiến chị không khỏi thất vọng và xót xa, bởi có lẽ chị đã từng hy vọng vào một ngôi nhà khang trang, đủ đầy hơn, để sau này lập nghiệp. sẽ không quá đau khổ. Chỉ là khung cảnh trước mắt khác xa so với những gì cô tưởng tượng, nhưng cô không hề than phiền vì thất vọng, mà cô bỗng trở thành một người phụ nữ nhẫn nhịn và tế nhị “ngậm thở khi ngực gầy”. nhô ra”. Cô ấy giữ tất cả những thất vọng và buồn bã trong lòng, không cho thế giới biết, cô ấy quyết tâm lập gia đình với người chồng mới, và làm việc chăm chỉ để vượt qua nghèo đói và khó khăn. Khi tôi giới thiệu mẹ chồng, tôi đã chào hỏi bà già rất lễ phép, khi bà nghĩ rằng bà sẽ không bao giờ nghe thấy tiếng chào của bà nữa, dáng điệu của bà e thẹn và xấu hổ, và bà thực sự biến thành một nàng dâu dịu dàng, khỏe mạnh và nhút nhát là khác nhau hình ảnh người phụ nữ.

              Sau đêm tân hôn, cô biến thành một bà nội trợ đảm đang, tháo vát, gánh vác trách nhiệm nặng nề từ việc nhà, bê quần áo rách ra sân, gánh nước, quét sân, thu gom rác vứt đi, bưng bê cơm nước, … Không khí gia đình trở nên hòa thuận, vui vẻ và nhiều hy vọng hơn cả. Nhất là khi đối diện với nồi cháo cám đắng nghét nghẹn nơi cổ họng bà cụ “mắt thâm quầng” nhưng bà vẫn “bình thản ngậm trong miệng”, không nói, không tỏ thái độ gì. Phong thái tế nhị bộc lộ một nét tính cách khác của chị, đó là sự thấu hiểu, cảm thông với người mẹ già thương con, hiểu rằng vì quá nghèo nên không có gì đãi con cháu trong ngày cưới. Thế là bà lão tội nghiệp mang đến một nồi cháo cám. Và cô không muốn phá tan bầu không khí gia đình vui vẻ đó, để bà cụ phải bối rối. Cuối cùng, cô ấy nói rằng ở Thái Nguyên và Bắc Giang, người ta không nộp thuế mà đi phá kho thóc của Nhật, điều đó cho thấy cô ấy có tư tưởng và quan điểm mới, người phụ nữ này không chấp nhận cuộc sống nghèo khổ. , Biết đâu một ngày nào đó chị sẽ cùng chồng đi phá kho thóc, đi theo cách mạng để giải phóng cuộc đời, cùng nhau mưu đồ cho một tương lai tốt đẹp hơn.

              Trong truyện ngắn Thị, vợ nhặt của Kim Lân là nhân vật tiêu biểu cho cuộc sống của hàng triệu người nông dân Việt Nam trong nạn đói năm 1945. Tuy sống trong hoàn cảnh nghèo khó, bôn ba nhưng cô vẫn giữ cho mình được cuộc sống. Vẻ đẹp tâm hồn đáng quý, tiêu biểu nhất là khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc, niềm hi vọng về một tương lai mới tốt đẹp hơn. Nó bộc lộ rõ ​​tư tưởng nhân văn, nhân đạo mà tác giả muốn gửi gắm trong các tác phẩm của mình.

              Phân tích thị trường Tìm vợ – Mẫu 2

              Người vợ nhặt của biên kịch Cẩm Dư trong tác phẩm cùng tên không phải là nhân vật trung tâm nhưng lại chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong toàn bộ tác phẩm. Có thể nói, với nhân vật này, giá trị hiện thực và giá trị nhân văn của tác phẩm sẽ trọn vẹn hơn.

              Nếu nhân vật còn mẹ già, còn nhà trọ, còn công việc mưu sinh, chờ ngày vơi đi cái đói, cái đau. Rồi vợ nhặt hết “hai bàn tay trắng”. Cô ấy muốn thức ăn thực sự, và những người có giá trị nhất chỉ là quần áo. Thân hình người đàn bà hiện lên cũng thật đáng thương: “ngực lép nhô”, “quần áo tả tơi như tổ đỉa”, “thị gầy”, “mặt lưỡi cày xám xịt, chỉ còn thấy hai con mắt”, lại là hai con mắt vô hồn nữa” Cụp”. Trong không khí đục ngầu, nặng nề, “không khí còn nồng nặc mùi xác chết”, “người chết như ngả rạ”, “người sống xanh như bóng ma”. Và cánh cửa tử thần dường như đang dần mở ra với cô.

              Không chỉ ngoại hình thay đổi mà tính tình cũng có những thay đổi tiêu cực đáng lo ngại. Vốn là phụ nữ, ai ngờ cô gái lại đánh đổi danh tiếng để lấy miếng ăn. Lần đầu tiên nghe được những lời này của ba người, tôi lập tức chạy đến, nhắm mắt lại và mỉm cười. Nhưng sự nhút nhát của cô càng được đẩy lên cao độ, lần sau gặp lại, cô đã chạy lại mắng cô một cách “chảnh”.

              Rồi khi được bưng bánh mời đàng hoàng, bao nhiêu dịu dàng, ngại ngùng đều tan biến, ăn hết bốn bát bánh đã nặn mà không ngước mắt lên. Toàn bộ nữ tính, nhân cách của cô ấy bị hủy hoại vì thức ăn. Lạ hơn nữa là khi cả nhóm chỉ nói đùa “Có về với tao lấy hàng rồi lên xe về luôn” nhưng cô nàng lại đi theo thật. Một cuộc hôn nhân cả đời, nhưng cô đã quyết định nhanh chóng. Chẳng lẽ cái đói lại hủy hoại nhân cách, thiên tính của con người ghê gớm đến thế sao?

              Vì đói, tôi nguyện hy sinh mạng sống của mình cho một người tôi mới gặp hai lần. Ngay cả trò chuyện là trong tầm tay của bạn. Khát vọng sống dẫn cô đến một quyết định liều lĩnh, và khi có cơ hội sống, cô nắm lấy bằng mọi giá, gạt bỏ mọi lễ nghi và sự nhút nhát của một cô gái sang một bên. Động thái này cũng thể hiện tinh thần khỏe khoắn của người phụ nữ nông dân, lòng khao khát sống và nhiệt huyết với cuộc đời. Đồng thời cũng là sự lên án nghiêm khắc nhất tội ác của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa phát xít đã đày đọa nhân dân đến tận cùng.

              Mặc dù kể về một người phụ nữ bị mất đi nhan sắc nhưng Jin Youni không hề có ý khinh thường, chế giễu mà là một trái tim đồng cảm và trân trọng. Sau sự phũ phàng đó, những gì chúng ta thấy vẫn là một người phụ nữ dịu dàng, rụt rè và dũng cảm. Trên đường về, cô xách chiếc thúng nhỏ ngồi xổm bên ruộng, bị lũ trẻ trêu chọc, xấu hổ. Nhất là giây phút con dâu nhìn thấy mẹ chồng lại càng lo lắng, sợ hãi.

              Sự thay đổi đó cũng khiến tôi, một chàng trai trẻ ngây thơ, nhận ra: “Ngoại hình hôm nay khác lắm. Cô ấy rõ ràng là một người phụ nữ ngay thẳng và dịu dàng, không chút tự mãn, giống như cặp đôi chúng tôi gặp trên phố. Ngày trước cũng vậy”. thời gian.” Đồng thời, thị cũng chăm chỉ và tháo vát. Dưới bàn tay của người phụ nữ dọn dẹp, ngôi nhà như bừng lên sức sống mới.

              Cụ thể, không phải ông ruột hay người mẹ mà chính người vợ nhặt mới là người đầu tiên nói về lá cờ Việt Minh, về vựa lúa của Nhật. Đằng sau người phụ nữ tưởng chừng như mất hết nhân tính ấy lại là một con người có sức sống tiềm tàng mạnh mẽ đến thế. Không phải ngẫu nhiên mà Kim Yoni lại giao trọng trách nói về những vấn đề quan trọng, tương lai tươi sáng cho nhân vật của vợ mình. Rang Lee, đây là nhân vật có sức sống mãnh liệt nhất trong tác phẩm nhưng cũng là nhân vật có số phận bi thảm nhất. Vì vậy, việc biến nhân vật trở thành người phát ngôn cho tương lai và hy vọng cũng là một cách thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của kỳ lân kim loại.

              Nhân vật vợ nhặt được đặt vào một tình huống truyện đặc biệt, ở tận cùng cái đói và cái chết, nhân vật này bộc lộ tính cách, ước mơ, khát vọng sống mãnh liệt. Không chỉ vậy, các nhân vật còn có sự liên kết với nhau khiến các sự kiện trong phim trở nên liền mạch. Nhân vật đón các cô gái không chỉ là thành công trong sáng tạo của Jin Wuni mà còn phản ánh những giá trị hiện thực và nhân đạo nhất của anh.

              Phân tích tính cách người vợ – Văn mẫu 3

              Trong ký ức của mỗi người Việt Nam, nạn đói năm Đinh Dậu vẫn là cơn ác mộng không thể nào quên. Từ đó, một hạt gạo vươn lên từ nỗi đau hiện thực và trở thành đề tài sáng tác của nhà văn. Thân phận con người đã trở nên tầm thường, đến cả hạnh phúc vợ chồng cũng là thứ rẻ rúng. Tất cả những điều đó được ngòi bút của Kì Lân ghi lại qua nhân vật người vợ nhặt trong tác phẩm cùng tên.

              Đầu tiên, chúng ta thấy cô ấy là nạn nhân của nạn đói, sống một cuộc sống thất thường. Là một nhân vật vô danh, người vợ nhặt là đại diện chung cho số phận của những người phụ nữ bất hạnh, bất hạnh khi sinh ra. Người phụ nữ đó không tên, không tuổi, không quê quán, không quá khứ. Từ đầu đến cuối, Kim Lan chỉ đặt cho nhân vật “cô”, “thị”, “nữ nhân”, “tân nương”, “nhà tôi” và những cái tên rất thông thường khác. Cô ấy xuất hiện một cách táo bạo và đáng thương trong hai lần gặp gỡ. Chợ “ngồi ngoài trời” và giữa những cô gái chờ nhặt thóc rơi. Thị ton-sur-ton chạy đến đẩy xe hàng với hy vọng “kiếm chác”, nhưng bất thành. Vừa chào xong, liền cười liếc nàng một cái, quay người lại sụt cân, thấy nàng đói đến hốc hác, “Hôm nay nàng tơi tả, quần áo tả tơi như tổ đỉa, gầy nhom, nằm ở trên giường. … mặt lưỡi cày xám xịt Vâng, chỉ còn thấy hai con mắt, tràng hình như không nhận ra thị giác Cùng với sự thay đổi về hình hài, cái đói đã xóa đi sự hồn nhiên vui tươi khi gặp chồng và trở thành một “tay chơi” “, người phụ nữ táo bạo. Cô ấy đói ngay lập tức Sau khi ăn bốn bát bánh thầu dầu,” cô ấy ăn liền bốn bát bánh mà không nói lời nào. Ăn xong, cô dùng đũa gắp lên miệng. “Kim Yoni đã khắc họa một người phụ nữ đáng thương! Từ ngoại hình đến tư thế, hành động, thị phi, tất cả đều hiện lên trang giấy với những cử chỉ khắc khổ, luộm thuộm, bi thương. Cái đói không chỉ hủy hoại ngoại hình mà còn tước đi nhân cách, phẩm giá của cô. Vì đói, cô trở nên “vui vẻ”, “lông bông” và “dừ”. Cái đói khiến cô quên giữ phẩm giá và lòng tự trọng của một đứa con gái. Đáng thương hơn, cái đói buộc cô phải nửa đùa nửa thật rằng “Đùa thôi, nhưng nếu anh về với em, chất đồ lên xe rồi về”, với tư cách “vợ nhặt”. Vậy đó, một câu chuyện tình yêu, một cuộc hôn nhân! Lãng mạn chỉ là một điều không tưởng. Sống và chết, cô ấy chọn lựa gì Trong cô ấy, cái tràng như một cứu cánh trong tâm trí tôi, cứu cô ấy khỏi cái đói thế kỷ. Cái đói đã khiến thị trấn này và bao nhiêu con người lúc bấy giờ trở nên rẻ rúng. Ai có thể ngờ rằng hạnh phúc của đôi vợ chồng này lại dựa trên bốn bát bánh Và chuyện đùa?Nhưng trong hoàn cảnh “cái chết như khúc củi”, “không khí ẩm ướt, rác rưởi, xác người thối rữa” thì hạnh phúc bình dị đời thường ấy mới đáng quý biết bao.

              Ngoài ra, cô còn là một người phụ nữ có khát vọng sinh tồn mãnh liệt. Cô đồng ý theo đại tá vì muốn sống chứ không phải tán tỉnh. Khát vọng sống mãnh liệt đã thôi thúc cô bé tìm cách thoát khỏi hoàn cảnh đáng thương này. Lạc quan yêu đời là một phẩm chất đáng quý, có thể nói là một con kỳ lân vàng: “Những người viết về năm đói thường nghĩ đến những người chỉ muốn chết. Tôi muốn viết một truyện ngắn với một ý nghĩa khác. Vào thời khắc nguy cấp, dù cận kề cái chết nhưng những con người này không hề nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng về sự sống, vẫn còn hy vọng và niềm tin vào tương lai. Vì thế, cô không giấu nổi sự khâm phục “nhà hoang vườn chật, cỏ dại mọc um tùm” vừa thầm thất vọng trước hoàn cảnh gia đình bi đát, cô đảo mắt nhìn quanh, khuôn ngực gầy phập phồng, nín thở trên đường về. Về nhà chồng, trước sự bàn tán, chỉ trỏ của người dân, người vợ cảm thấy “Dậm chân tại chỗ”, xấu hổ vô cùng, khi về đến nhà chồng, nhìn căn nhà dột nát, cô rất thất vọng. đã cố gắng hết sức để giữ tất cả những điều này trong lòng.Với tiếng thở dài ấy, Vừa có sự mất mát, lo lắng, vừa có ý thức trách nhiệm, sứ mệnh xây dựng cuộc sống gia đình tương lai.

              Phẩm chất tuyệt vời của nhân vật cũng để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả. Sau khi vào phòng, nàng ngại ngùng “ngồi” cạnh giường và ngượng nghịu chào bạn. Không giống như vẻ ngoài nhọn hoắt, tròn trịa và tròn trịa ban đầu, cô ấy giờ đây là một cô dâu mới được chú ý, ngưỡng mộ và cân đối. Chính sự yêu thương, quan tâm, sẻ chia trong lúc hoạn nạn đã khiến con người ta sống tốt hơn, ý thức và trách nhiệm với bản thân sâu sắc hơn. Sáng sớm hôm sau, cô dậy sớm dọn dẹp cùng mẹ chồng. Ngay cả thượng tá cũng ngạc nhiên nói: “Thượng tá hôm nay khác lắm. Rõ là các chị dịu dàng đoan trang, không còn vẻ tự mãn như mấy lần tôi thấy ngoài tỉnh nữa”. Bữa cơm cho dâu, bữa cơm đắng cho kẻ đói, bát cháo cám đắng cay bà mừng lắm. Thị trường là một làn sóng mới trong nhà. Trước thực tế phũ phàng, bà thở dài “con dâu bưng bát đưa lên mắt tối đi” nhưng bà vẫn “bình thản, ngậm trong miệng”. Trong hoàn cảnh đó, ai cũng phải nén nỗi buồn trong lòng để vui tươi hớn hở. Lời nói của bà cụ đầy lạc quan: “Cám ơn anh bạn. Ngon lắm, ăn thử đi. Nhà mình cám cũng không có”. Bên cạnh đó, người vợ nhặt cũng là một người phụ nữ thông minh và chu đáo. ” Khi nghe tiếng trống khai thuế, cô tỏ vẻ ngạc nhiên hỏi mẹ chồng: “Ở đây còn phải nộp thuế à?”. Câu nói của chị làm đầu óc anh hơi rối bời “anh đang nghĩ đến những kẻ phá kho thóc hàng ngày”, “hình ảnh những người nghèo khổ lầm lũi đi trên bờ đê chợt hiện lên trong đầu anh. Phía trước là một lá cờ đỏ to tướng”…

              Điểm sáng nghệ thuật của “Vợ tôi tìm được” nằm ở việc khắc họa nhân vật nhà văn lân vàng. Tác giả đặt nhân vật vào những tình huống “lạ lùng”, “lầm lì”; thông qua hệ thống ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, qua sự quan sát kĩ lưỡng, tinh tế, các sự kiện để miêu tả diễn biến tâm lí.

              Vì vậy, vai nhặt vợ trong “Nhặt vợ” của Jin Yi là hình ảnh tiêu biểu của những người phụ nữ lao động nghèo khổ và đáng thương. Nhưng dù hoàn cảnh éo le, cô bé vẫn tỏa sáng khát vọng sống, phẩm chất tốt đẹp và niềm tin vào tương lai.

              Phân tích nhân vật người vợ bé-Mẫu 4

              Kim Ranh là một trong những cây bút tiêu biểu của văn xuôi hiện đại Việt Nam thời Cách mạng Tháng Tám. Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, một trong những kiệt tác của Jin Yi là truyện ngắn “Vợ nhặt”, được đưa vào tập truyện “Con chó xấu xí”. Đây là tác phẩm của Kim Lân tái hiện thành công khung cảnh đen tối và khủng khiếp của nạn đói đầu năm (1945) ở nước ta. Trong bối cảnh đen tối đau thương ấy, tác giả đặt vào hình tượng nhân vật người vợ được chọn: nghèo khổ, bất hạnh nhưng có khát vọng sống mãnh liệt. Hóa ra vào một ngày chết đói, cô ấy sẽ không chấp nhận bất kỳ người đàn ông nào làm vợ.

              Về hoàn cảnh éo le, hiện ra ở chỗ làm, người vợ nhặt chỉ là một con số trống rỗng: không tên tuổi, không quê quán, không gia đình, không nghề nghiệp… Từ đầu đến cuối chỉ nhận được chữ “thị” – một sự luộm thuộm. Kêu gọi chị và tất cả những người phụ nữ có hoàn cảnh và số phận éo le như chị. Không chỉ vậy, chân dung người phụ nữ hiện ra ngay từ đầu cũng không được đẹp lắm: hình ảnh người phụ nữ gầy gò, ngực lép, mặt lưỡi cày xám xịt, quần áo rách rưới như tổ đỉa, chờ đợi trong vô vọng để chúc may mắn.

              Trước khi trở thành vợ, cô ấy là một người phụ nữ hùng hồn và táo bạo. Lần đầu gặp nhau, thị đã chủ động làm quen đẩy xe bò cho đại tá và “nhìn nhau cười” với bà. Lần thứ hai gặp tôi, cô ấy “chạy tới” và “nói đắc thắng”, vẫn “đứng hiên ngang” trước khán giả. Ngoài ra, thị còn ngỏ lời xin ăn. Khi được mời ăn banchong, cô ấy đã cúi đầu và ăn bốn bát banchong. Ăn xong, bà quẹt đũa ngang miệng khen ngon… Trong cơn đói khát tột cùng, bà gần như đánh mất nhân cách và bản chất tế nhị của con người.

              Về đến nhà, nhìn ngôi nhà xiêu vẹo trong tràng, chị không khỏi thở dài, ngao ngán về cuộc sống trong tràng. Thở dài thất vọng, vì cái tràng cũng chẳng khá hơn là bao. Không chỉ nghèo, chị còn có mẹ già, phải lo liệu có kham nổi không, nếu không sẽ càng khổ hơn. Đứng trước bà cụ, vật vờ, loay hoay vá áo, thật tội nghiệp. Trong sâu thẳm, người này vẫn khao khát một mái ấm thực sự nên quyết định gắn bó ở đó và trở thành một phần của gia đình đó, bất chấp ngày mai có ra sao.

              Có thể nói rằng những màn trình diễn nêu trên của thị trường đều là do đói trong phân tích cuối cùng. Cái đói đôi khi có thể bóp méo tính cách của một người. Nói đến đây, tác giả tất nhiên cảm thấy xót xa và đồng cảm với cảnh nghèo khổ của người lao động. Sau khi làm vợ, cô trở lại đúng phẩm chất của một người phụ nữ dịu dàng, kín đáo, lễ phép và có trách nhiệm. Điều đó được minh chứng qua dáng vẻ thảm hại và bẽn lẽn của cô trong bữa tiệc lúc chạng vạng tối. thi bẽn lẽn lùi lại ba bốn bước, nón che bên hông, “rợn người, ngượng ngùng, chân bước lên chân nhau”… lúc này, nhìn tấm thị thực tội nghiệp, mới thấy cảnh cô dâu theo sau. nhà chồng: cảnh đám cưới không hoa, không pháo cưới, chỉ có những khuôn mặt hốc hác đen tối của bà con hàng xóm và tiếng quạ kêu, tiếng khóc than cho người đã khuất… Hành trình đến với hạnh phúc của cô là cả cuộc đời tăm tối và kinh hoàng khôn tả. .

              Nhưng một điều gì đó mới đã thay đổi người phụ nữ. Làm vợ được một ngày, chị dậy sớm dọn dẹp nhà cửa. Đó là hình ảnh của một người phụ nữ hiền thục, một người vợ biết lo toan cho cuộc sống gia đình, không sồ sề, không sỗ sàng, một nàng dâu thảo mai. Có một sự thăng hoa không thể giải thích được trong cuộc sống.

              Trong tiệc cưới đói meo, bà lão dành tất cả tình yêu thương cho cô con dâu mới. Khi kể chuyện cho mẹ và chồng chứng tỏ chị là người phụ nữ hiểu chuyện thời sự. Cô ấy có một câu chuyện ở Bắc Giang khi mọi người đi phá kho thóc của Nhật Bản. Chính cô đã cho mẹ và chồng hy vọng đổi đời trong tương lai.

              Thông qua hình ảnh nhặt được vợ, tác giả lên án mạnh mẽ tội ác man rợ của thực dân Pháp, phát xít Nhật đã gây ra nạn đói; đồng thời bày tỏ sự đồng cảm, thương cảm trước hoàn cảnh của người lao động nghèo; người tình đơn sơ. khát khao hạnh phúc, dù trong gian lao vất vả họ vẫn yêu thương, quan tâm chăm sóc nhau, cùng nhau vun đắp hạnh phúc để vượt qua thử thách cam go.

              Tóm lại, người phụ nữ không tên tuổi, vô gia cư, vô danh đó, với trái tim giàu tình yêu thương, đã thực sự thay đổi cuộc đời cô. Những bóng người trình diễn không lộng lẫy nhưng lại gợi lên sự đầm ấm của cuộc sống gia đình. Phải chăng cô đã mang đến luồng gió mới cho cuộc sống tăm tối của những người nghèo đang hấp hối…

              Phân Tích Tính Cách Vợ Nhặt – Văn mẫu 5

              Cim Ranh là một nhân vật tầm cỡ hiện tượng trong làng văn học Việt Nam thế kỷ 20. Tác phẩm của ông không nhiều nhưng tác phẩm nào cũng rất hay. Người đọc tìm thấy ở những trang viết của ông tinh thần nhân văn lạc quan với khát vọng mãnh liệt về cuộc sống tốt đẹp trong mọi hoàn cảnh, kể cả khi chết đói, đói khát. Những tác phẩm về nông thôn trước cách mạng của Kim Lan hấp dẫn người đọc bởi tính nhân văn của chúng. Ngay cả khi con người phải sống trong hoàn cảnh khốn khổ nhất đói khát, sống dở chết dở, tác giả vẫn tìm thấy ở họ niềm tin yêu cuộc sống và khát vọng sống. Sức sống ấy được thể hiện đầy đủ qua nhân vật “chọn vợ” trong các tác phẩm của ông.

              Trong ngòi bút của Jin Wuni, người vợ anh nhặt được là một người phụ nữ không tên, không tên, không tuổi, quê hương và quá khứ. Không phải nhà văn kém ngôn ngữ nên đặt tên cho cô ấy, mà vì cô ấy là một con bèo trôi nổi trong nạn đói, một người đàn bà vô danh. Từ đầu đến cuối, nhân vật này chỉ được gọi là “cô”, “thị”, “nữ nhân”, “dâu mới”, “con nhà người ta”. Nhưng nhân vật này đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

              Lần đầu tiên cô xuất hiện là: ngồi giữa đống hạt dưa vương vãi ở cổng các tỉnh, thành phố. Khi nghe câu hô cho đỡ buồn “muốn ăn cơm giờ/ Lại đây đẩy xe bò với anh”, thị “Tôn chạy lại đẩy xe bò cho cả đám… cười tít mắt”. Cô vừa đẩy xe vừa ăn nên rất nhiệt tình không quan tâm.

              Lần thứ hai, cô xuất hiện trong một bộ dạng không mấy hấp dẫn: một người phụ nữ gầy gò, “quần áo tả tơi như tổ đỉa”, “mặt xám xịt”, với đôi mắt trũng sâu của “hai đứa trẻ”. Có thể nói, cái đói đã làm cô thêm xơ xác, tội nghiệp và khốn khổ hơn. Cái đói không chỉ hủy hoại khuôn mặt mà cả nhân cách và phẩm giá của cô.

              Vì đói mà cô trở nên “vui vẻ”, “mềm mại” và “chua ngoa”. Thể hiện sự “cong” và “u ám” khi giao tiếp.

              Cái đói khiến cô quên đi việc duy trì sự tỉnh táo và lòng tự trọng của thời con gái. Cứ đòi ăn mãi. Sau khi ăn no, cô định “ăn liền một mạch bốn bát bánh ngọt mà không nói lời nào”. Cô ấy đặt sự tồn tại của bản thân, thức ăn của mình lên trên nhân cách của mình.

              Khi ông già đùa giỡn, ông nói đùa: “Về nhà với anh, lên xe trước rồi chúng ta về”. Sau đó, người phụ nữ kia giữ im lặng (thường có nghĩa là im lặng là đồng ý). Tôi đồng ý, không chần chừ, không do dự. Trong khi đó, Colon là ai, tốt xấu như thế nào? Nguồn gốc là gì? Thị trường nào hoặc ai biết. Chỉ cần vài bát bánh thầu dầu là có thể ăn không kịp. Chợ, tràng chỉ dành cho dân sành ăn? Quá đơn giản, quá hời hợt? Trên thực tế, hành động theo dòng của cô ấy là từ sự kiên trì và mong muốn cho cuộc sống. Rủi ro thị trường Mọi thứ đều được ăn, và chỉ bằng cách ăn chúng ta mới có thể tồn tại. Chấp thị dựa vào đạo tràng. Đó là ý thức gắn bó với cuộc sống.

              Cận kề cái chết, người phụ nữ không bao giờ từ bỏ cuộc sống. Thay vào đó, cô ấy vẫn vượt qua sự ảm đạm của mình và bắt đầu một gia đình. Sự lạc quan và niềm say mê cuộc sống của thành phố là những phẩm chất rất quý giá. Jin Qilin cho biết: “Trong tình thế nguy cấp, mặc dù cái chết đang cận kề nhưng những người này không hề nghĩ đến cái chết mà hướng đến sự sống, tràn đầy hy vọng và niềm tin vào tương lai.”

              Trên đường về, tâm trạng của người chồng thay đổi rõ rệt. Nếu một người đàn ông hạnh phúc, tự hào và tự hào, một người phụ nữ cảm thấy xấu hổ. Trước những con mắt tò mò, trước những lời giễu cợt, trêu chọc của cư dân. Xấu hổ và thiếu tự tin, cô “giậm một chân… chiếc nón rách che nửa khuôn mặt”.

              Về đến nhà chồng, chị “thở dài” khi nhìn thấy “căn nhà trống hoác, nằm co ro trong mảnh vườn cỏ dại um tùm”. Đây là một tiếng thở dài bất lực, một sự thất vọng và một sự chấp nhận. Ai ngờ chiếc phao cô vừa nắm chặt lại bị đứt. Trong tiếng thở dài ấy không chỉ có nỗi lo cho ngày mai, tương lai mà còn có sự quan tâm, trách nhiệm với gia đình chồng. Chẳng lẽ cô biết mình cùng chồng chung tay gánh vác trách nhiệm xây dựng gia đình? Tấm lòng của cô thật đáng quý biết bao.

              Vào phòng, nàng bẽn lẽn “ngồi” vào mép giường (“ngồi” ở tư thế bấp bênh, chông chênh nhưng ân cần). Thể hiện lễ nghĩa, kính trọng, lịch sự khi chào cụ (hai tiếng chào). Đây là hình ảnh đẹp về một cô con dâu rất nề nếp, hòa thuận với mẹ chồng. Khi nói chuyện với mẹ, cô chỉ biết “đứng sờ soạng với chiếc áo rách”.

              Sau đêm tân hôn, tâm trạng và tính cách của người phụ nữ thay đổi rõ rệt. Cô dậy sớm cùng mẹ chồng dọn dẹp nhà cửa. Người đọc cũng dễ dàng nhận ra sự thay đổi này: nếu thị trường hôm qua chua ngoa, dữ dội, èo uột thì thị trường hôm nay thật nhẹ nhàng. Cô cảm nhận được sự thay đổi kỳ diệu hơn ai hết: “Cologne ngày nay khác lắm. Rõ là một người phụ nữ dịu dàng và thanh lịch, không còn kiêu kỳ, luộm thuộm như thời chúng tôi biết. Ngoại tỉnh rồi”. Câu này ghi lại cảm xúc thật của Dachang trước việc vợ anh chủ động thay đổi. Liệu tình yêu đích thực và phép màu nhiệm có sức lay động thương trường.

              Bữa cơm đầu tiên ở nhà chồng, tuy chỉ là “nồi cháo, mỗi người hai bát” nhưng phải ăn cháo cám, chị vẫn vui vẻ hài lòng. Thị trường đã mang lại sức sống và thông tin thời đại mới cho mẹ và bé. Nghe thấy tiếng trống thu thuế, cô nói với mẹ chồng: “Ở Thái Nguyên và Bắc Giang, người ta không còn nộp thuế nữa. Họ thậm chí còn phá kho thóc của Nhật và chia cho những người đói khổ.” làm cho chị Thấu nhìn rõ hơn về con đường mình đã chọn, “trong thâm tâm tôi vẫn thấy đoàn người đói khổ đi trên bờ kè với lá cờ đỏ to tướng phía trước”. Qua đó, ta thấy được nhân vật người vợ, vừa là sứ thần của cách mạng, vừa là “cô dâu mới”.

              Jin Lan đã viết về những thay đổi trong tâm trí của cô ấy, bày tỏ sự tôn trọng và ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của những người lao động nghèo. Tình cảm nhân đạo của nhà văn được thể hiện trọn vẹn ở đây. Nghệ thuật xây dựng nhân vật: nhân vật do người vợ lựa chọn được tạo ra, tác giả đặt nhân vật vào một tình huống truyện độc đáo, diễn biến tâm lí được miêu tả chân thực, tế nhị, ngôn ngữ mộc mạc, giản dị phù hợp với nhân vật. Nghệ thuật trần thuật hấp dẫn, giàu kịch tính…

              Tóm lại, “gái ế” là sáng tạo ban đầu của Kim Uni. Thông qua nhân vật này, nhà văn thể hiện ý nghĩa nhân văn cao đẹp. Người Việt Nam tuy sống trong hoàn cảnh khó khăn nhưng họ luôn hướng tới tương lai với niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống.

              Phân tích tính cách người vợ nhặt——Văn mẫu 6

              Thực ra, vợ nhặt, vợ nhặt ở chỗ làm không bị bóc lột nhiều. Nhưng thông qua nhân vật này, kim uni còn mang đến một thông điệp ý nghĩa và nhân văn, thể hiện tấm lòng nhân văn sâu sắc của tác giả.

              Người vợ thợ xây là một người phụ nữ nghèo, có hoàn cảnh khó khăn. Nàng không có gia sản, ngay cả danh phận cũng không có, chỉ là phổ thông gọi là kén vợ mà thôi. Cô ấy không nhà cửa, tôi gặp cô ấy hai lần, chỉ thấy cô ấy lang thang ở góc đường, góc chợ. Cô không người thân, không nghề nghiệp. Cùng toàn dân Việt chống đói, bà không còn gì nương tựa, sống trong dòng nước lũ chết chóc, từng ngày, từng giờ, cái đói xanh mặt. Xanh xao, gầy gò, gò má cao, thiếu sức sống.

              Chính tình thế dồn ép đến đường cùng đã khiến cô đánh mất lòng tự trọng. Nỗi ám ảnh về cái đói, cái chết không chỉ bóp chết cuộc sống của người đàn bà đáng thương này mà còn bào mòn nhân cách, phẩm giá của bà, được thể hiện rõ nét nhất trong hai lần chạm trán với ruột già. Lần đầu tiên, khi gặp một khán giả xa lạ, cô chỉ vì một câu hát ngẫu hứng mà chạy ra ngoài, trên môi nở nụ cười yêu thương, rồi đẩy xe bò đến Dachang. Sức mạnh của bữa ăn quá lớn, và nó khiến cô ấy mất đi sự nhút nhát và nhút nhát tự nhiên.

              Lần thứ hai tôi gặp con người vô liêm sỉ, vô ơn, tự trọng đó. Sau lần gặp đầu tiên, không có sự thống nhất nào, nhưng khi gặp lại, họ lao đến và đứng trước mặt họ và nói: “Chà! Diao. Thật là một người”. Cô không quan tâm đến điều đó cho đến khi được mời đi ăn tối, cô ngồi xuống và ăn một lúc bốn bát bánh. Câu văn ngắn tả hành vi ăn uống thô tục nơi chợ búa. Nỗi ám ảnh về cơn đói đã khiến cô hành động táo bạo. Tính cách và lòng tự trọng là quý giá nhất đối với một người bị bán rẻ trong thực phẩm. Một thực tế đáng buồn là không chỉ có vợ nhặt, rất nhiều người Việt rơi vào hoàn cảnh này. Và liều lĩnh nhất chỉ là một câu chuyện đùa trong truyện, cô theo anh về làm vợ. Trong trường hợp không còn nơi nương tựa, thì dù là vợ nhặt được, cô ấy cũng sẽ nhận để tránh sự truy sát của tử thần.

              Cũng có tính cách, sau khi kết hôn, người vợ đã trải qua những thay đổi to lớn. Đầu tiên là sự thay đổi về tâm tính và tính cách, trên đường về nhà, trước sự chứng kiến ​​của mọi người, Zhenzi rụt rè và ngại ngùng đi bên cạnh Kelong với chiếc giỏ nhỏ. Vẻ mặt trong tư thế ấy thể hiện tâm lý xấu hổ, ngượng ngùng của nàng. Đó cũng là biểu hiện đầu tiên của sự trở lại của nữ tính, không còn công khai nữa. Nỗi lo về tương lai cũng nảy sinh trong lòng những người vợ nhặt. Về đến nhà, nhìn thấy căn nhà dột nát, xung quanh cỏ dại mọc um tùm, khuôn ngực phẳng lì của cô nhô ra, cô cố nén tiếng thở dài. Về đến nhà, cô ngồi ở mép giường, tay ôm chặt cái giỏ.

              Trước mặt mẹ chồng, cô lễ phép chào bà và loay hoay với chiếc áo rách của bà. Phong thái của cô thể hiện tâm trạng dễ hiểu, sự ngại ngùng khi lần đầu đối mặt với mẹ chồng. Tuy nhiên, trong cách giao tiếp với người lớn tuổi cũng thể hiện phần nào sự lịch sự, dịu dàng. Những cách thể hiện này một lần nữa cho thấy thể xác chỉ là sản phẩm của hoàn cảnh, nhưng tận cùng bản chất của nó vẫn là tâm hồn người phụ nữ.

              Sự thay đổi rõ ràng nhất trong tính cách diễn ra vào buổi sáng đầu tiên trong cuộc hôn nhân của cô. Đánh giá về tính cách của cô ấy, thị trường ngày nay đã hoàn toàn khắc sâu, cô ấy rõ ràng là một người phụ nữ dịu dàng và đàng hoàng, và cô ấy không còn nói nhiều và hỗn xược như nhiều lần ở ngoại tỉnh. Sự thay đổi trong cảm giác của ruột già là do một số việc đơn giản nhưng đầy ý nghĩa mà vợ tôi làm: dậy sớm, cùng mẹ dọn dẹp, lau nhà, v.v., mang lại màu sắc tươi sáng cho căn phòng tối tăm lạnh lẽo. Đại tràng. Những việc làm đó đều thể hiện sự dũng cảm, hóm hỉnh, tình yêu chân thành, kính trọng quê hương, khát vọng mãnh liệt về hạnh phúc gia đình.

              Đó không chỉ là sự thay đổi về tính cách mà còn là sự thay đổi về khái niệm. Hạnh phúc của người vợ hái quả không hề dễ dàng bởi sự kết hợp giữa đói khát và chết chóc. Đêm tân hôn của cặp đôi cũng phải được tiến hành giữa tiếng khóc của những người thân trong gia đình người đã khuất. Bữa ăn đầu tiên của cô dâu là một nồi cháo cám mặn, canh là nước lã. Nhưng lúc đó cô vẫn có niềm tin vững chắc vào tương lai.

              Không phải ngẫu nhiên mà trong ba vai, Kim Uni chọn thị chứ không phải hai vai còn lại, nói về cuộc nổi dậy và phá vỡ vựa lúa mì của Nhật Bản. Có lẽ vì người đàn ông dám đánh đổi tất cả, thậm chí để trở thành người vợ tốt nhất nên khát vọng sống và hạnh phúc của họ là không thể phá vỡ. Tuy không nói rõ tương lai, nhưng ở một người khao khát sống, có tinh thần lành mạnh như vợ nhặt, Jin-in thể hiện tinh thần nhiệt thành nhất định sẽ đi theo cách mạng.

              Nhân vật người vợ nhặt được con kỳ lân vàng được đặt trong một tình huống rất độc đáo, từ đó thấy được tâm trạng và cách ứng xử của nhân vật. Nhân vật tập trung miêu tả cử chỉ, động tác làm nổi bật vẻ đẹp của người vợ Nhật Bản.

              Jin Yu đã dựng nên một bức chân dung văn học bất tử bằng ngòi bút của sự tin tưởng và tôn trọng của mình. Người vợ nhặt là nạn nhân điển hình nhất của nạn đói năm 1945, nó làm lu mờ nhân cách và lòng tự trọng của nhân vật. Nhưng sâu thẳm trong con người ấy vẫn là một người phụ nữ dịu dàng, nữ tính, nuôi nấng khát vọng hạnh phúc mãnh liệt và một con người có niềm tin mãnh liệt vào tương lai.

              Phân tích đặc điểm nhân vật Vợ nhặt——Văn mẫu 7

              Xem Thêm : 20. 22. TÂY THÁI HẬU THÙY LIÊM THÍNH CHÍNH | Ông Giáo Làng

              Ai đó đã từng nói: “Hãy quay mặt về phía mặt trời, bóng tối sẽ ngả về phía sau bạn”. Bởi vì, như nhà văn Ruan Kai đã nói, “Sự sống đến từ cái chết, và hạnh phúc đến từ gian khổ và hy sinh. Cuộc sống không có kết thúc, chỉ có ranh giới, và điều quan trọng nhất là có đủ sức mạnh để vượt qua ranh giới đó.” thật sự, chúng tôi không khỏi xót xa cho những hoàn cảnh bất hạnh, mừng cho niềm tin của người dân vào tương lai mới và cả hơi ấm của tình cảm gia đình mà nước mắt cứ lăn dài trên má. Cách thể hiện điều đó qua hình tượng nhân vật?

              Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân được viết trong bối cảnh nạn đói năm 1945. Hình ảnh nhân vật Trang trong các tác phẩm của Jin Wuni xù xì, xấu xí, ra ngoài làm thuê và xuất thân nghèo khó. Ở chợ, cô gái bất hạnh đang chống chọi với cơn đói. Hai người gặp nhau vỏn vẹn hai lần rồi thành vợ thành chồng chỉ vì một bát bánh và vài câu bông đùa. Cô khiến tất cả cư dân bất ngờ khi dẫn về nhà dưới nắng trưa. Bà lão nhìn cô con dâu mới mà lo lắng liệu con cái có chăm sóc được nhau khi nghèo khó không, liệu chúng có ngất ngây vì khó khăn hay đói rét hay không, nhưng điều đó không ngăn cản được tình cảm vợ chồng. những con người bạc mệnh. Họ cùng nhau xây dựng những cánh cửa của ngôi nhà và chia sẻ từng bữa ăn. Trong niềm hân hoan đó, câu chuyện kết thúc bằng hình ảnh những người dân phá kho thóc của Nhật và cờ đỏ sao vàng tung bay trong đầu.

              Nhân vật có đầy đủ những nét tiêu biểu của người dân lao động nghèo trong nạn đói khủng khiếp. Dưới ngòi bút của Jin Qilin, các nhân vật giống như những con ma đói, với bộ quần áo luộm thuộm và “mì cày xám ngực mỏng” bẩn thỉu, không có tên, chỉ có chữ “shi”. Cô gái đói bụng muốn thu dọn đồ vương vãi, nghe ba hô hoán liền vội vàng đẩy xe. Nàng gặp tràng nhưng không ăn trầu, mà ăn một miếng bánh, sau đó dùng đũa quẹt qua miệng, “Ngon lắm.” Tất cả những gì chúng tôi thấy là những bức chân dung chi chít, nhầy nhụa. Tuy nhiên, dưới ngòi bút tuyệt vời của tác giả, người vợ hiện lên cong queo, cong lắm chứ không phải răng nanh, một nhân vật sinh ra từ ngu dốt, nghèo đói, đen tối nhưng nhất định không được sinh ra. Ác, ác. Khi cuộc hôn nhân cả đời của một người chỉ bắt đầu bằng vài câu nói vụn vặt, khiến người phụ nữ quên hết phẩm hạnh, phẩm hạnh, phẩm hạnh mà ăn hết bánh ngọt, tính tình sẽ càng cay nghiệt, sẽ trôi theo đám đông mà không có vợ. . Tìm mọi nguồn sông. Chính cái đói đã làm cho thân phận con người trở nên hèn hạ và rẻ rúng.

              Khi gặp chồng thì cực kỳ hung dữ nhưng khi về làm dâu thì lại là một người vợ, người con dâu ngoan hiền. Đi theo dòng suối, như thể bạn đã đến một nơi mà bạn có thể trốn tránh cơn đói rình rập. Trên đường trở lại chùa, nàng Thi hung dữ bỗng trở nên dịu dàng, rụt rè và nhút nhát. Lần đầu đến nhà mới, những ánh mắt trầm ngâm, dáng điệu khép nép, cách chào hỏi ngượng nghịu… tất cả khiến cô có cảm giác mình như một cô dâu mới cưới. Bà là người phụ nữ can đảm và dịu dàng nhất từ ​​khi làm vợ, cùng mẹ sửa cửa, dọn vườn, ăn bữa cơm đắng nhẹ. Truyện kể về những tên cướp kho thóc Nhật Bản dưới hình ảnh những lá cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới. Nó thắp lên ánh sáng hy vọng về một tương lai mới, mở ra con đường từ đấu tranh đến cách mạng. Rõ ràng, cô đã dần có được cảm xúc trọn vẹn và ý thức trách nhiệm từ chữ “yêu”. Đúng là dù trong cảnh nghèo cùng cực, tình thương vẫn quý hơn cơm ăn áo mặc, bởi nó giúp con người ta được sống là chính mình, được làm người.

              Truyện ngắn Vợ nhặt là bản cáo trạng đanh thép đối với thực dân Pháp, phát xít Nhật và bọn phong kiến ​​tay sai đã đẩy nhân dân vào cảnh khốn cùng đói rét, mạng người như rác. Không chỉ vậy, Vợ nhặt còn có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, dù đau khổ đến đâu, dù chết đến đâu, con người vẫn yêu thương nhau, tôn trọng nhau, quan tâm nhau, vẫn khao khát hạnh phúc, muốn sống như một con người và sống như một con người.

              Tào Nam từng nói “đàn bà khi yêu thì xấu, nhìn cũng liếc mắt đưa tình”, điều này đúng với vợ của anh. Tôi nghĩ đó là sự yêu thích của cô gái để nhìn chằm chằm, không chỉ xấu xí, mà còn rách rưới và đói khát. Nhưng có lẽ trong lúc ngọ nguậy, mắt nhắm mắt mở, họ đã quên đi sự sống nơi cõi trần bên bờ vực âm phủ, cõi chết như giao hòa với cõi trần, và chỉ nhớ đến tình yêu. Hãy trân trọng và ngưỡng mộ những niềm vui bình dị đời thường!

              Phân Tích Tính Cách Vợ Nhặt – Văn mẫu 8

              Thầy giáo trần minh từng có một nhận xét rất sắc sảo: “Nhà văn lấy vợ nhặt làm đòn bẩy nâng đỡ tình người. Truyện vợ nhặt đầy bóng tối nhưng cũng phảng phất chút ánh sáng ấm áp”. Và những cái “ấm lòng” Phải chăng “ánh sáng” là tình yêu, là sức sống mãnh liệt của những nhân vật bị đẩy đến cùng cực buộc phải đối mặt với cái chết nhưng biết tỏa sáng và tăng giá? giá trị của con người. Bằng óc quan sát tinh tế và sự đồng cảm sâu sắc với số phận con người, Kim Lan đã thành công xây dựng nhân vật và thể hiện sinh động số phận người phụ nữ trong tác phẩm, thực sự khiến người đọc xúc động.

              Vợ người ta đã chọn tác giả Kim Lan lấy hiện thực xã hội nạn đói lớn năm 1945 làm đề tài, tác phẩm cũng miêu tả hiện thực đó một cách chi tiết, sinh động và có giá trị lớn.

              Tác phẩm này đã được đăng trong Tuyển tập những chú chó xấu xí, và nó đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả sau khi xuất bản, đặc biệt là những tình tiết khó hiểu nhưng cảm động của câu chuyện. Thực tế xã hội nảy sinh khi con người sẵn sàng từ bỏ phẩm giá và địa vị của mình để có được miếng ăn vì đói. Và nhân vật người vợ đặc biệt nổi bật. Nhưng có ý nghĩa và giá trị mà tác giả muốn gửi gắm.

              Trong ngòi bút của Jin Wuni, người vợ anh nhặt được là một người phụ nữ không tên, không tên, không tuổi, quê hương và quá khứ. Không phải nhà văn kém ngôn ngữ nên đặt tên cho cô ấy, mà vì cô ấy là một con bèo trôi nổi trong nạn đói, một người đàn bà vô danh. Từ đầu đến cuối, nhân vật này chỉ được gọi là “cô”, “thị”, “nữ nhân”, “dâu mới”, “con nhà người ta”. Nhưng nhân vật này đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

              Bất kể ngoại hình hay tính cách, anh ta là một người đói:

              Lần đầu tiên cô xuất hiện là: ngồi giữa đống hạt dưa vương vãi ở cổng các tỉnh, thành phố. Khi nghe câu hô cho đỡ buồn “muốn ăn cơm giờ/ Lại đây đẩy xe bò với anh”, thị “Tôn chạy lại đẩy xe bò cho cả đám… cười tít mắt”. Cô vừa đẩy xe vừa ăn nên rất nhiệt tình không quan tâm.

              Lần thứ hai, cô xuất hiện trong một bộ dạng không mấy hấp dẫn: một người phụ nữ gầy gò, “quần áo tả tơi như tổ đỉa”, “mặt xám xịt”, với đôi mắt trũng sâu của “hai đứa trẻ”. Có thể nói, cái đói đã làm cô thêm xơ xác, tội nghiệp và khốn khổ hơn. Cái đói không chỉ hủy hoại khuôn mặt mà cả nhân cách và phẩm giá của cô. Vì đói mà cô trở nên “vui vẻ”, “luộm thuộm”, “chua ngoa”. Có biểu hiện “cong” và “dừ” khi giao tiếp, nói năng. Cái đói khiến cô quên mất việc giữ gìn sự tỉnh táo và lòng tự trọng. Cứ đòi ăn mãi. Sau khi ăn no, cô định “ăn liền một mạch bốn bát bánh ngọt mà không nói lời nào”. Cô ấy đặt sự tồn tại của bản thân, thức ăn của mình lên trên nhân cách của mình.

              Khi ông già đùa giỡn, ông nói đùa: “Về nhà với anh, lên xe trước rồi chúng ta về”. Sau đó, người phụ nữ kia giữ im lặng (thường có nghĩa là im lặng là đồng ý). Tôi đồng ý, không chần chừ, không do dự. Trong khi đó, Colon là ai, tốt xấu như thế nào? Nguồn gốc là gì? Thị trường nào hoặc ai biết. Chỉ cần vài bát bánh thầu dầu là có thể ăn không kịp. Có thể theo xu hướng cho người sành ăn?

              Dễ bán trên bề mặt? Trên thực tế, hành động theo dòng của cô ấy là từ sự kiên trì và mong muốn cho cuộc sống. Rủi ro thị trường Mọi thứ đều được ăn, và chỉ bằng cách ăn chúng ta mới có thể tồn tại. chấp nhận trực tràng.

              Thứ bám vào sự sống là ý thức. Bên bờ vực của cái chết, một người phụ nữ không bao giờ từ bỏ cuộc sống. Thay vào đó, cô ấy vẫn vượt qua sự ảm đạm của mình và bắt đầu một gia đình. Sự lạc quan yêu đời của thành phố là một phẩm chất vô giá.

              Ông nói như một con kỳ lân vàng: “Vào thời điểm quan trọng, mặc dù cái chết đang đến gần, nhưng những người này không nghĩ đến cái chết mà hướng đến sự sống, tràn đầy hy vọng và niềm tin vào tương lai”.

              Trên đường về, tâm trạng của người chồng thay đổi rõ rệt. Nếu một người đàn ông hạnh phúc, tự mãn và tự mãn, một người phụ nữ cảm thấy xấu hổ.

              Trước những ánh mắt “soi mói”, trước những lời giễu cợt, chọc ghẹo của cư dân. Xấu hổ và thiếu tự tin, cô “giậm một chân… chiếc nón rách che nửa khuôn mặt”.

              Về đến nhà chồng, chị “thở dài” khi nhìn thấy “căn nhà trống hoác, nằm co ro trong mảnh vườn cỏ dại um tùm”. Đó là một sự thất vọng, một sự thất vọng và một tiếng thở dài chấp nhận.

              Người ta nghi ngờ rằng chiếc phao mà cô ấy đang cầm đã bị hỏng. Trong tiếng thở dài ấy không chỉ có nỗi lo cho ngày mai, tương lai mà còn có sự quan tâm, trách nhiệm với gia đình chồng. Chẳng lẽ cô biết mình cùng chồng chung tay gánh vác trách nhiệm xây dựng gia đình? Tấm lòng của cô thật đáng quý biết bao.

              Vào phòng, nàng bẽn lẽn “ngồi” vào mép giường (“ngồi” ở tư thế bấp bênh, chông chênh nhưng ân cần). Thể hiện lễ nghĩa, kính trọng, lịch sự khi chào cụ (hai tiếng chào). Đây là hình ảnh đẹp về một cô con dâu rất nề nếp, hòa thuận với mẹ chồng. Khi nói chuyện với mẹ, cô chỉ biết “đứng sờ soạng với chiếc áo rách”.

              Sau đêm tân hôn, tâm trạng và tính cách của người phụ nữ thay đổi rõ rệt. Cô dậy sớm cùng mẹ chồng dọn dẹp nhà cửa. Người đọc cũng dễ dàng nhận ra sự thay đổi này: nếu thị trường hôm qua chua chát, dữ dội và èo uột thì thị trường hôm nay lại nhẹ nhàng như vậy.

              <3 cuộc gặp gỡ ngoại tỉnh.

              Câu này ghi lại cảm xúc thật của Đại Xương trước việc vợ chủ động thay đổi. Liệu tình yêu đích thực và phép màu nhiệm có sức lay động thương trường.

              Bữa cơm đầu tiên ở nhà chồng, tuy chỉ là “nồi cháo, mỗi người hai bát” nhưng phải ăn cháo cám, chị vẫn vui vẻ hài lòng. Thị trường đã mang lại sức sống và thông tin thời đại mới cho mẹ và bé.

              Nghe tiếng trống thúc thuế, cô nói với mẹ chồng: “Ở Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không nộp thuế nữa, thậm chí còn phá kho thóc của Nhật chia cho dân đói”.

              Sự thấu hiểu này của chị dường như đã cho chị một sự ngộ nhận về con đường phía trước mà anh đã chọn “Trong tâm trí tôi, tôi vẫn thấy một đoàn người đói khổ đi trên bờ kè, trước mặt là một lá cờ đỏ lớn”. Qua đó, ta thấy được nhân vật người vợ, vừa là sứ thần của cách mạng, vừa là “cô dâu mới”.

              Jin Lan đã viết về những thay đổi trong tâm trí của cô ấy, bày tỏ sự tôn trọng và ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của những người lao động nghèo. Tình cảm nhân đạo của tác giả được thể hiện ở đây.

              Xây dựng nhân vật người vợ nhặt, tác giả đã đặt nhân vật này vào một tình huống truyện độc đáo, diễn biến tâm lí được miêu tả chân thực, tinh tế, ngôn ngữ mộc mạc, giản dị phù hợp với tính cách nhân vật. Nghệ thuật trần thuật hấp dẫn, giàu kịch tính…

              Tóm lại, “Picking Girls” là sáng tạo của kim uni. Thông qua nhân vật này, nhà văn thể hiện ý nghĩa nhân văn cao đẹp. Dù sống trong cảnh khốn khó nhưng người dân Việt Nam luôn hướng về tương lai với niềm tin yêu cuộc sống.

              Sắc đẹp cứu người” (dos-i-ep-ki). Đúng vậy, “Cô gái nhặt nhạnh” của Kim Lan đã thể hiện rõ sức mạnh kỳ diệu đó. Ánh sáng của lòng nhân ái, ánh sáng của niềm tin và tình yêu cuộc sống là phương tiện để giúp Nguồn cho những tác phẩm đã hoàn thành của Kim Youni. Ông đã đóng góp cho toàn bộ nền văn học Việt Nam, đặc biệt là về chủ đề cái đói, một quan niệm mới về lòng người và bản chất con người. Sau khi đọc truyện cổ tích, dấu ấn mạnh mẽ nhất trong tâm trí người đọc là vẻ đẹp của con người, Đây là tính cách. Dù là nạn nhân của nạn đói nhưng thị trấn này vẫn có đầy đủ phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam. Đây là sự trân trọng và tôn vinh của chính tác giả.

              Phân tích nhân vật trong “Vợ tôi tìm được”——Văn mẫu 9

              Nhà văn Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Thái, sinh ngày 1-8-1920 tại làng Phù Lỗ, xã Sín Hồng, huyện Tô Sơn, tỉnh Bắc Ninh, là một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc của Việt Nam. văn. thế kỷ XX. Sự nghiệp văn chương của ông tuy khiêm tốn nhưng cũng khá độc đáo khó trộn lẫn. Một số truyện ngắn của ông được xếp vào hàng kinh điển của văn xuôi Việt Nam thế kỷ 20 như Nhặt Vợ, Làng, Con Chó Xấu. …

              Truyện ngắn “Nhặt vợ” của Kim Lan ra đời năm 1945 khi đất nước đang trong nạn đói, nhân dân lầm than, sống chết quay cuồng, “người chết như nằm, không có triều đình”. . Người trong làng sáng nào cũng đi chợ, đi làm đồng nhưng chưa bao giờ thấy ba bốn cái xác nằm bên vệ đường. Mùi hôi thối của rác rưởi và xác người tràn ngập không khí. Viễn cảnh về khu phố ấy diễn tả cảnh đói khát, cơ cực của người dân nơi đây, tác phẩm cô đảm nhận xoay quanh câu chuyện của ba người trong một gia đình dân ngụ cư, kỳ lạ thay, người đặt tựa cho câu chuyện lại không có tên, không có tuổi. Đó chính là người vợ, người phụ nữ ấy chỉ là một trong hàng ngàn người phụ nữ cùng thời, nên con người ấy phần lớn bị lãng quên, ít được để ý, nhưng với nhà văn đó là một số phận không thể làm ngơ, một số phận đau đớn và xót xa. Phải chăng sức hấp dẫn của nhân vật nữ này đến từ một kẻ hắc ám khắp nơi trở thành cô con dâu hiền lành của lão bà?

              Vợ là một phụ nữ không rõ lai lịch, vô gia cư. Cô ấy thậm chí không có tên, khi cô ấy xuất hiện, đôi khi cô ấy được gọi là thị, cô ấy là ai, đôi khi cô ấy là phụ nữ. Chỉ có bà già coi vợ như con dâu, được chồng gọi là nhà tôi. Trước khi đến nhà bà cụ, nó cùng các chị ngồi trước cửa kho thóc liên bang, chờ nhặt hạt rơi, hạt vương vãi, hoặc người có việc gọi đến. Lúc bấy giờ đói kém, điều kiện của người dân rất rẻ mạt. Không phải vợ không tên không tuổi đâu, những cô gái như thế này có rất nhiều đấy.

              Khi chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên, cô ấy là một người hung dữ và kiêu ngạo. Nghe người đánh xe hát một câu cho đỡ mệt (em muốn ăn cơm/ lại đây đẩy xe bò với bà), cô đỡ bò đứng dậy, chạy theo đẩy xe bò về phía đám đông. . Lần thứ hai gặp nhau, thị vội chạy đến ngay khi anh thanh toán xong. Cô ấy đứng trước mặt cô ấy và nói: “Chết tiệt! Người đàn ông như vậy! Thấy anh trai mình có vẻ dễ lấy, cô ấy tiếp tục cuộn tròn lại. Khi thấy có thức ăn, đôi mắt trũng sâu của cô ấy đột nhiên sáng lên, như thể cô rất đói Ngồi xuống ăn Cô cắm đầu ăn bốn bốn bát bánh mà không nói lời nào, ăn xong cô đưa đũa lên miệng khen, đây mới là bản chất thật của người phụ nữ này sao? phụ nữ đều có trực giác từ đầu đến cuối Hành động. Tất cả những gì cô ấy làm là kiếm cái gì đó để ăn.

              Khi nhận lời làm vợ Tràng, trên đường về nhà chồng, nàng đã thay đổi hoàn toàn. Với vẻ vui tươi kỳ lạ trên khuôn mặt, thường mỉm cười một mình với đôi mắt lấp lánh, cô đi sau anh khoảng ba bốn mươi thước, tay xách một chiếc giỏ nhỏ, chiếc mũ đội lệch che nửa khuôn mặt. Cô ấy trông rụt rè và nhút nhát. Rõ ràng, so với người phụ nữ mới lúc ban trưa, cô ấy bây giờ là một người khác. Buổi trưa đi chợ, cô thèm ăn muốn chết, giờ lại sắp về nhà chồng. Ngoài ra, cô ấy bắt đầu nhận ra mình là một người vợ. Hóa ra cô không có bất kỳ quyền lực nào, kể cả quyền lựa chọn, và cuối cùng, cô phải chấp nhận số phận của mình.

              Tuy nhiên, ngay cả khi cô ấy cố gắng ăn gạo nếp, cô ấy vẫn là một người có ý thức về giá trị bản thân. Trên đường về nhà chồng, buồn cười vì bị lũ trẻ trêu chọc, chị tỏ vẻ khó chịu, cau mày, đưa tay giũ mạnh góc áo. Trẻ con nghịch ngợm có thể buồn cười, nhưng ngay cả người lớn cũng tò mò ở đây, cô càng xấu hổ, chân này kẹp vào chân kia. Anh vô tư đến và cưới nhau như thế. Lẩm bẩm trong miệng, cô xoay người rời đi, suýt chút nữa đi nhầm đường. Cô mong được về nhà “chồng” càng sớm càng tốt để tránh những ánh mắt soi mói của mọi người xung quanh.

              Tại Cologne House, thị trường thậm chí còn khác hơn. Người phụ nữ này có tính tò mò nhút nhát của một cô dâu mới. Thị đảo mắt nhìn xung quanh. Nghèo quá, nghèo quá. Anh hít một hơi thật sâu. Người chồng xin vợ cho qua chuyện, liên tục giục vợ ngồi xuống nhưng cô chỉ dám ngồi ở mép giường. Khi bà già về nhà, bà già chủ động chào bạn. Trước mặt mẹ chồng, cô trở nên rụt rè và sợ hãi hơn, cô vẫn đứng yên tại chỗ, khẽ nhúc nhích. Cũng chính thái độ và hoàn cảnh của cô đã khiến bà lão nhìn cô bằng ánh mắt thương hại thay vì sự soi mói của mẹ chồng đối với con dâu. Cô nhanh chóng nhận cô làm dâu dù chỉ vài phút trước đó họ còn là những người hoàn toàn xa lạ. Sáng hôm sau, cô ấy đã trở thành một người vợ và người mẹ tốt. Cùng với bà cụ, em dậy sớm quét dọn nhà cửa, sân vườn. Người bàng quan như anh vẫn có thể nhận ra những đổi thay lạ lùng của người thành thị. Khung cảnh hôm nay thật khác, có thể thấy người phụ nữ dịu dàng và thanh lịch này không còn e lệ như mấy lần tôi thấy ở các tỉnh thành. Không chỉ vậy, cô ấy còn chứng tỏ mình là một người kinh doanh. Hỏi chuyện bà cụ đánh trống ầm ĩ ngoài công quán, mới biết là tiếng trống thuế nên khẽ thở dài. Sau đó, cô là người đầu tiên kể câu chuyện về Tai Ruan cho cả nhà nghe, người Bắc Giang không chịu nộp thuế, đi phá kho thóc của Nhật chia cho dân đói.

              Câu chuyện đó khiến tôi nhớ lại những lúc mình có cơ hội làm mà không làm, để lại trong lòng rất nhiều người sự nuối tiếc và nuối tiếc. Biết đâu, để lo cho cuộc sống gia đình, người phụ nữ này có thể dũng cảm hơn cả anh trai mình! Sau bữa ăn tồi tệ sáng hôm đó, cô cũng như bà già và anh trai mình, một nỗi ân hận dâng lên trong tâm trí khi cô phải cố gắng nuốt xuống miếng cám đắng nghét trong cổ họng. Tuy nhiên, thị cũng như hai mẹ con cố tránh nhìn nhau, không muốn làm người khác tủi thân. Phải tế nhị lắm, với thái độ nhân văn và tế nhị như vậy, phải tế nhị biết bao.

              Hóa ra là một người phụ nữ lấy vợ trước đây hung dữ, nhưng đói khát. Khi sống trong tình yêu thương, trong gia đình, người phụ nữ đó sống với bản chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam bẩm sinh

              Thông qua truyện ngắn Nhặt gái, Kim Nhân đã khắc họa thành công nhân vật người phụ nữ đi nhặt gái. Tác giả tập trung miêu tả động tác, cử chỉ, nét mặt của nhân vật, giúp người đọc hiểu được tâm lý phụ nữ. Tác giả đã lựa chọn những chi tiết rất phù hợp để bộc lộ số phận cũng như vẻ đẹp của nhân vật. Nhân vật nhặt được cô con dâu có vai trò quan trọng trong việc làm nổi bật chủ đề tư tưởng của tác phẩm, có vai trò quyết định trong việc hình thành tình huống truyện. Qua nhân vật này, người đọc cũng biết được tài năng và tấm lòng của nhà văn và người vợ nhặt là một nhân vật vô danh.

              Phân Tích Tính Cách Vợ Nhặt – Văn mẫu 10

              Để làm nên một tác phẩm, nhà văn phải có trách nhiệm khơi mở giá trị hiện thực thông qua nhân vật và cốt truyện của mình. Để người đọc có cái nhìn đặc biệt và thiện cảm với thời đại đó. Kim Lan, một nhà văn chuyên về truyện ngắn, đã đạt được điều này bằng cách mô tả những câu chuyện của nông dân và trí thức nghèo trong xã hội phong kiến. Nếu nói đến nạn đói, người ta chỉ nói đến một thực tế phũ phàng trong xã hội bấy giờ, và người ta chỉ nói đến những người chết đói hoặc chết cóng, nhưng Jinlan thì khác. Ông viết rằng những người như vậy “mặc dù cái chết cận kề nhưng họ không nghĩ đến cái chết mà hướng đến cuộc sống, tràn đầy hy vọng và niềm tin vào tương lai”. Trong số đó, “rước dâu” thể hiện rõ nét quan niệm văn học này. Nhưng tất cả đều được cô đọng trong phong cách và đặc trưng của tác phẩm.

              Người phụ nữ Việt Nam trong văn học sẽ rất mong manh, yếu đuối khi được nhắc đến bởi sự áp bức, áp bức của một xã hội. Thị, một người đàn bà không tên không tuổi, kim cô chỉ được nhắc đến với những đại từ tầm thường. Không rõ ràng, đầy mơ hồ, và số phận của cô như một người phụ nữ “nhặt nhạnh ai nấy làm, có việc gì hỏi thì làm”. Bất kỳ người phụ nữ nghèo nào ở đó đều bị đói khát và khốn khổ bủa vây. Sao cứ nhắc đến chị với hai chữ “vợ nhặt” là nó lại đỏng đảnh đến thế. “Vợ” chưa cưới, chưa đưa về nhà chồng mà “rước” về, cất đi cũng là một món hời. Kỳ lân vàng dường như nói lên sự nghèo đói và giá trị thấp của con người trong xã hội năm 1945. Một thời loạn lạc và sầu thảm như màu làng quê chiều tối “dày đặc, sình sịch, hai bên đường tối om, nhà không một ngọn đèn, người đói lả đi rón rén như bóng ma”. Khung cảnh dường như lên đến đỉnh điểm trong tiếng quạ “The Crow.”

              Hai lần cô chạm trán với Cologne và vẽ một bức chân dung cho thấy sự tàn khốc của nạn đói nói trên. Từ một cô gái tràn đầy năng lượng, nghe tiếng hát vu vơ “nhìn, cười…chạy đẩy xe”:

              “Ta muốn ăn cơm! Lại đây đẩy xe bò với ta đi, meo meo!”

              Trốn tránh cái thực tế “quần áo tả tơi như tổ đỉa, chị gầy guộc, mặt lưỡi cày lấm lem, chỉ có hai con mắt”. Cô bị cơn đói dồn đến bước đường cùng, dồn cô đến bước đường cùng. Cô đã từ bỏ cái mà cô gọi là danh dự và nhân phẩm. Cô không còn xấu hổ “ngửa bát bốn cái bánh cuốn, ăn xong lấy đũa gắp lên miệng.” Cái đói làm sức người kiệt sức, nhưng cô phải tìm một lối thoát khác, một lối thoát mới. cuộc sống, vì vậy cô ấy đã về nhà. Tuy “đàn tràng cũng tưởng đùa, nhưng lại là thật”. Nếu thị trường không trở lại thì sao? Nhân phẩm và danh dự cũng không cứu vãn được, cô mặc cho Trường bày ra những trò đùa ngớ ngẩn nhưng cô lại cho là thật: “Đùa thôi, nhưng nếu anh về với em thì anh lên xe lấy hàng trước em. về nhà đi”. Nếu không, có thể những ngày tới sẽ có một phiên chợ “người chết như ngả rạ” ngoài đường và “ba bốn xác người nằm la liệt bên vệ đường”. Vì nạn đói giống như một con quỷ hiện thân với những kẻ thực dân chuyên bóc lột các dân tộc phương bắc, giết họ vì lợi nhuận. Liệu một người phụ nữ như cô ấy có còn đủ sức để chống cự không, Kim Uni đã cho cô ấy một con đường để sống sót.

              Nhưng có lẽ bản thân thành phố cũng là một thứ đẹp đẽ, nhưng một tia sáng le lói sẽ làm vẻ đẹp trong bức tranh ảm đạm đó tỏa sáng. Lượm theo một luồng phụ nữ khác rình mò: “Trời này còn phải trả nợ, biết nuôi nhau mà qua được không?”. “Một người phụ nữ dường như biết rằng mọi người xung quanh đang theo dõi cô ấy, và cô ấy càng xấu hổ hơn, một chân giẫm lên chân kia.” Nhưng sự hiện diện của cô ấy cũng “mang lại một điều gì đó kỳ lạ và sảng khoái cho cuộc sống tăm tối, đói khát của họ”. Nó không còn “mềm mại như mấy lần tôi thấy ở ngoài tỉnh”, “có vẻ rụt rè nhút nhát… vẫn ngồi thu lu ở thành giường, hai tay ôm chiếc giỏ, nét mặt ủ rũ”. Trong lòng có chút buồn và chút thất vọng, “lồng ngực gầy dựng đứng, em lấy hơi”. Họ có thể đáp ứng nhu cầu thị trường?

              Nhưng cô không trơ ​​trẽn như những người nghèo, cô vẫn là một người không nghĩ đến cái chết mà hướng đến sự sống, tràn đầy hy vọng và niềm tin vào tương lai. “Khi gặp mẹ, tôi vẫn chào mẹ và vẫn lễ phép, tôn trọng. Thị là người đảm đang, biết lo toan cho gia đình. Đây là người đã mang lại sự đổi mới cho nhà. Nhờ có bà, cô có thể cảm nhận được Family vibe.” Có điều gì đó mới mẻ và khác biệt xung quanh tôi. Chợ hôm nay khác lắm, rõ là một người phụ nữ đoan chính, dịu dàng không còn vẻ hà khắc, luộm thuộm nữa”. Dù bát chè thập cẩm mẹ bưng ra đầy “đắng nghẹn cổ họng” nhưng chị vẫn “bình thản và chất chứa trong miệng Bà không nói nên lời, vì biết hoàn cảnh chùa nên bà rất biết ơn công ơn dưỡng dục của hai mẹ con, nếu một ngày bà không ăn nổi chén chè đắng, sẽ có một xác chết vô danh trên đường “Chưa bao giờ hai mẹ con lại đầm ấm, hòa thuận đến thế”, chị cũng giúp chị nhìn thấy một tương lai tươi sáng hơn trong không khí, “một nỗi buồn len lỏi vào trái tim”, chị Thi kể lại. đoàn kịch về việc Việt Minh “phá kho thóc của Nhật” và phân phát cho Dân nghèo. Điều này cho tôi ảo tưởng hoang đường về “nhân dân khốn khổ và cờ đỏ tung bay”. Có thể một ngày nào đó cô ấy sẽ ở đó, và một ý nghĩ chợt lóe lên, như một luồng ánh sáng, một hơi thở mới do chú kỳ lân vàng mang đến cho cô.

              Tóm lại, nhân vật Thạch không chỉ đại diện cho một tầng lớp mà còn đại diện cho sức sống mãnh liệt và khát vọng sinh tồn tiềm tàng của con người thời bấy giờ. Phiên chợ cũng là điểm nhấn, là những nét chấm phá vụn vặt của ngòi bút ánh lên giá trị nhân văn và hiện thực của việc “tìm vợ”. Jinlan đã cho mọi người thấy tinh thần quan tâm và nuôi dưỡng người khác, bộc lộ mong muốn của người nghèo về một ngôi nhà hoàn hảo.

              Phân Tích Tính Cách Vợ Nhặt – Văn mẫu 11

              Truyện ngắn “Vợ Nhặt” của Kim Đơn khắc họa bóng đen hãi hùng của nạn đói đầu năm 1945 trong tâm trí tác giả và người dân miền Bắc. Nạn đói thảm khốc nhấn chìm không gian, biến một người phụ nữ thành “vợ được chọn”. Có thể nói, nhân vật cô gái nhặt là một trong những nhân vật đặc sắc nhất trong lịch sử văn học hiện đại Việt Nam, hàm chứa nhiều quan niệm nghệ thuật, triết lí sâu sắc.

              Nhân vật người vợ nhặt xuất hiện trong một nạn đói hết sức bi thảm, cái đói phải đi lại khó khăn, đôi lúc mất đi sự dịu dàng tự nhiên. Vợ nhặt không biết tên. Thị trấn quá nghèo để có một cái tên riêng. Cái đói, cái nghèo cũng đã tước đi vẻ đẹp của chị và làm chị tiều tụy: “mặt lưỡi cày xám xịt”, “bụng gầy”, “quần áo tả tơi như tổ đỉa”. Anh đi theo sau một hàng xe “tont” liếc nhìn cô cười. Thị trường “hờn dỗi” ăn vạ. Thể hiện Lộn Xộn, Lộn Xộn, Nguy Hiểm: “ĂN THẬT! CÓ THỂ ĂN KHÔNG SỢ!”… món ăn ngẫu hứng mà cô nàng sẵn sàng làm theo vì không có trai lạ. Vài lời bâng quơ, bốn bát bánh thầu dầu, chị về làm vợ và “rước” về một người chồng – một người đàn ông nghèo, khờ khạo, khờ khạo. “Cô dâu” – cô không tài sản, không nhan sắc về nhà chồng. Nạn đói khiến các thành phố trở nên vô giá trị. Về khoản này thì cô vợ nhặt không bằng tôi trong tác phẩm “Đôi lứa” của nhà văn Dư Hoài. Em bị crush vô đối, không bằng trâu nhưng ít ra cũng xinh và tài. Trên thương trường, chẳng lẽ Tạo hóa lại không ban cho người phụ nữ này sự tử tế thường dành cho phụ nữ. Đời chị lận đận, mất duyên con gái, vừa nghe tin ăn là chị “quay tay đẩy xe” cho ruột già. Rồi “chạy lại bảo muốn ăn”, khi được ăn thì “ăn liền một hơi bốn bát bánh, không nói nên lời”, “hai con mắt trũng sâu sáng lên”. Cô đã gần như mất hết lòng tự trọng, không còn chút dấu vết của một người phụ nữ nông thôn.

              Nhưng bản chất cô ấy không phải là một người xấu xa, cơ hội. Trên thực tế, chính môi trường tạo nên thành phố. Vì vậy, cho đến khi được hạnh phúc bên gia đình, chị bỗng trở về với sự giản dị chân chất, đảm đang của người phụ nữ Việt Nam. Ngay từ khi về làm “dâu”, cô nàng đã thẹn thùng, dễ thương khi về nhà chồng. Sau đêm tân hôn, cô ấy gần như là một con người khác. Cô ấy biết cách chăm sóc và vun đắp hạnh phúc gia đình. Em cùng bà già dọn vườn, nhổ cỏ, mang quần áo cho Hồng, lấp ao khô… mang lại hơi thở mới cho ngôi nhà. Dù bữa cơm đơn sơ cháo đắng nhưng cảnh Việt Minh phá kho thóc Nhật cứu đói đã khơi dậy khát vọng sinh tồn trong nhân dân. Chi tiết này bộc lộ con người giải thoát và khao khát một tương lai tốt đẹp hơn ở nhân vật người vợ.

              Vì vậy, Jin Yi phản ánh tình cảnh éo le và niềm cảm thông sâu sắc đối với những người lao động nghèo khổ trong nạn đói thông qua hình tượng người vợ trong tác phẩm “Vợ Nhặt”. Người vợ nhặt qua hình ảnh năm 1945 là hiện thân của bản chất tốt đẹp vốn có của con người, là khát vọng hạnh phúc gia đình, là hiện thân của khát vọng sống.

              Phân Tích Tính Cách Vợ Nhặt – Văn mẫu 12

              Tác phẩm Vợ đảm nhận xoay quanh câu chuyện của ba người trong một gia đình sinh động. Điều kỳ lạ là người đặt tựa cho câu chuyện không có tên, không có tuổi. Đó chính là người vợ. Người phụ nữ đó chỉ là một trong số hàng ngàn phụ nữ cùng thời. Vì vậy, con người ấy rất dễ bị lãng quên, ít được quan tâm nhưng đối với nhà văn, đó là một số phận không thể làm ngơ, một số phận đau đớn và trăn trở. Phải chăng sức hấp dẫn của nhân vật nữ đến từ một bóng hình mờ ảo bỗng nhiên trở thành cô con dâu hiền dịu của một bà già?

              Vợ là một phụ nữ không rõ lai lịch, vô gia cư. Cô ấy thậm chí không có tên, khi cô ấy xuất hiện, đôi khi cô ấy được gọi là thị, cô ấy là ai, đôi khi cô ấy là phụ nữ. Chỉ có bà già coi vợ như con dâu, được chồng gọi là nhà tôi. Trước khi đến nhà bà cụ, nó cùng các chị ngồi trước cửa kho thóc liên bang, chờ nhặt hạt rơi, hạt vương vãi, hoặc người có việc gọi đến. Lúc bấy giờ đói kém, điều kiện của người dân rất rẻ mạt. Không phải vợ không tên không tuổi đâu, những cô gái như thế này có rất nhiều đấy.

              Người vợ hiện ra với một hình ảnh bi đát. Lần đầu tiên anh nhìn thấy cô, cô gầy gò và xanh xao (ngồi trước cửa chuồng), nhưng đến lần thứ hai, anh không nhận ra cô. Vì đói khát không chịu nổi nên chỉ một hôm, quần áo tả tơi như tổ kiến, gầy còm đến mức khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ có hai con mắt. Thảo nào anh không nhận ra là đúng.

              Khi chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên, cô ấy là một người mạnh mẽ, táo bạo. Nghe người đánh xe hát một câu cho đỡ mệt (em muốn ăn cơm/ lại đây đẩy xe bò với bà), cô đỡ bò đứng dậy, chạy theo đẩy xe bò về phía đám đông. . Lần thứ hai gặp nhau, thị vội chạy đến ngay khi anh thanh toán xong. Cô ấy đứng trước mặt cô ấy và nói với vẻ mặt ủ rũ: Diao! Một người đàn ông như vậy! Thấy anh trai có vẻ dễ nắm bắt, cô tiếp tục cuộn tròn. Thấy có gì để ăn, đôi mắt trũng sâu của cô chợt sáng lên, cô ngồi xuống ăn. Cô cắm đầu ăn bốn bốn bát bánh mà không nói lời nào. Ăn xong, cô đưa đũa lên miệng thở.

              Đây có phải là bản chất của người phụ nữ này? Không, xuyên suốt, phụ nữ hành động theo bản năng. Cô ấy cố gắng hết sức chỉ để… ăn!

              Khi nàng nhận làm vợ: Trên đường về nhà mẹ đẻ, nàng đã hoàn toàn thay đổi. Với vẻ mặt rất vui vẻ, cô ấy đang nói chuyện một mình, đôi mắt sáng ngời, và cô ấy đi theo anh ta khoảng ba mươi bốn mươi thước, tay xách một chiếc giỏ nhỏ, chiếc mũ đội lệch qua nửa khuôn mặt. Cô ấy trông rụt rè và nhút nhát. Rõ ràng, so với người phụ nữ lúc trưa vừa rồi, cô ấy bây giờ đã là một người khác. Buổi trưa đang đi chợ thì vỡ oà ăn cơm, giờ thì về nhà chồng (ai mà không biết xấu hổ!). Ngoài ra, cô ấy bắt đầu nhận ra mình là một người vợ. Hóa ra cô không có bất kỳ quyền lực nào, kể cả quyền lựa chọn, và cuối cùng cô phải chấp nhận số phận của mình.

              Ge, ngay cả khi cô ấy muốn ăn gạo nếp, cô ấy vẫn là một người có lòng tự trọng. Trên đường về nhà chồng, buồn cười vì bị lũ trẻ trêu chọc, chị tỏ vẻ khó chịu, cau mày, đưa tay giũ mạnh góc áo. Đứa trẻ nghịch ngợm và ngộ nghĩnh, ngay cả người lớn ở đây cũng tò mò, cô càng xấu hổ, chân này kẹp vào chân kia. Anh vô tư đến và cưới nhau như thế. Cô lẩm bẩm trong miệng và đi nhầm chỗ. Tôi mong được về nhà sớm để tìm “chồng” và tránh sự dòm ngó của mọi người.

              Tại Cologne House, thị trường thậm chí còn khác hơn. Một người phụ nữ có sự tò mò của một cô dâu mới. Thị đảo mắt nhìn xung quanh. quá nghèo. Anh hít một hơi thật sâu. Người chồng muốn vợ cho qua chuyện, giục vợ ngồi xuống nhưng cô chỉ dám ngồi ở mép giường. Khi bà già về nhà, thằng ngốc chủ động chào đón bạn. Trước mặt mẹ chồng, cô lại càng rụt rè hơn, cô vẫn đứng yên tại chỗ, khẽ nhúc nhích. Chính thái độ và hoàn cảnh ấy của cô đã khiến bà lão nhìn cô bằng ánh mắt thương hại thay vì sự soi mói của mẹ chồng đối với con dâu. Cô nhanh chóng chấp nhận rằng mình là cô dâu, mặc dù họ chỉ mới vài phút trước đó là những người hoàn toàn xa lạ.

              Sáng hôm sau, cô trở thành một người vợ, người mẹ tốt. Cô cùng bà già dậy sớm, dọn dẹp nhà cửa, quét sân. Một người vô tâm như anh vẫn nhận ra những thay đổi của thị trấn: khung cảnh hôm nay thật khác, có thể thấy người phụ nữ đoan chính và dịu dàng này dường như không còn đẹp như mấy lần tôi gặp ở ngoại tỉnh. .Tinh tế. Không chỉ vậy, cô ấy còn chứng tỏ mình là một người kinh doanh. Hỏi chuyện bà cụ đánh trống ầm ĩ ngoài công quán, mới biết là tiếng trống thuế nên khẽ thở dài. Sau đó cô là người đầu tiên kể cho cả nhà nghe chuyện Thái Nguyên, dân Bắc Giang không chịu nộp thuế, đi phá kho thóc của Nhật chia cho dân đói. Câu chuyện đó làm tôi nhớ lại những lúc có cơ hội làm mà không làm, hối hận và tiếc nuối. Biết đâu, để lo cho cuộc sống gia đình, người phụ nữ này có thể dũng cảm hơn cả anh trai mình! Sau bữa ăn tồi tệ sáng hôm đó, cô cũng như bà già và anh trai mình, một nỗi ân hận dâng lên trong tâm trí khi cô phải cố gắng nuốt xuống miếng cám đắng nghét trong cổ họng. Tuy nhiên, cũng như hai mẹ con, cô cố gắng tránh nhìn mặt nhau, không muốn làm người khác tủi thân. Phải tinh tế lắm, phải tinh tế đến mức nào mới có thái độ nhân văn như vậy!

              Hóa ra sự hung dữ của người phụ nữ lấy mình chẳng qua là đói khát. Trong tình yêu, trong gia đình, người phụ nữ ấy sống với bản chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam.

              Người vợ là một điển hình cho số phận người phụ nữ trong nạn đói 1945: nghèo hèn, rẻ rúng. Khi người phụ nữ ấy may mắn được sống trong tình người, trong một gia đình thì mặc cho đói khát đe dọa, những phẩm chất tốt đẹp sẽ quay trở lại.

              Jin Qilin đã miêu tả nhân vật nữ này rất tài tình. Nhà văn không chú trọng miêu tả tâm lý nhân vật, giữ nguyên vẻ dị hợm, phù hợp với tình huống tìm vợ ngoài chợ (khác với miêu tả tâm lý nhân vật rất chi tiết). Tác giả tập trung miêu tả động tác, cử chỉ, nét mặt của nhân vật để người đọc hiểu được tâm trạng của người phụ nữ. Chẳng hạn như chi tiết đội nón che mặt thể hiện sự xấu hổ vì biết mình là người con gái không thuộc họ nhà chồng; hay khi nhìn quanh nhà Bác không khỏi thở dài; hay khi nhìn quanh nhà Bác không khỏi thở dài; nhặt cái bát lên. cháo cám, nhìn vào mắt tôi, ánh sáng trong mắt tôi mờ đi, rồi tôi bình tĩnh lại, những gì tôi nói trong miệng là thái độ cuối cùng chấp nhận số phận… nhiều chi tiết lặt vặt, ví dụ như suy nghĩ của một người và cảm xúc rất khác nhau.rõ ràng.

              Qua việc xây dựng nhân vật người vợ, nhà văn gián tiếp lên án một xã hội đẩy con người vào cảnh tha hóa rẻ rúng nhân phẩm chỉ vì cái đói. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh éo le của mình, con người luôn vươn tới sự sống, tới tương lai và trong hoàn cảnh nhân đạo hơn, phẩm giá con người được thể hiện.

              Ba nhân vật chính trong “Vợ nhặt” được tác giả xây dựng theo những cách khác nhau. Chính những điểm khác biệt đó đã tạo nên giá trị riêng của tác phẩm. Ba nhân vật này trở thành ba lát cắt của cuộc sống xã hội đen tối, đói khát để rồi từ đó tỏa ra ánh sáng nhân đạo cao cả.

              Phân Tích Tính Cách Vợ Nhặt – Văn mẫu 13

              Nhân vật “thị” là thành công phi thường của Đinh Dậu 1945 Yuni trong nghệ thuật phân tích tâm trạng người phụ nữ đáng thương. Công việc.

              Một nạn đói khủng khiếp đang diễn ra. Mọi người đang chết đói. Quạ bay vút như mây đen trên trời. Đám đông người chạy đói từ phía nam Dinnan, và nơi yên bình lan rộng như những bóng ma xanh và xám giữa các lều của chợ. Mùi xác người. Thị cũng đói bụng chạy ra cửa kho “ngồi ngoài” với chị em. Không biết họ tên, nơi sinh, tuổi tác. Bạn có chắc cha mẹ, anh chị em của bạn đang chết đói? Cái đói lấy đi mọi thứ. Lần đầu tiên nghe khẩu hiệu “Em muốn ăn cơm trắng mấy phút…”, cô đã bị các bạn “đẩy” cho. Cô vừa “cười như điên” vừa nói với cả nhóm: “Cả nhà ơi, nói thật hay khoác lác vậy?”. Bạn “mỉm cười với tôi” và anh ấy “thích nó rất nhiều”. Lần tiếp theo khi gặp một dấu hai chấm, cô ấy đã hoàn toàn biến đổi. Quần áo tả tơi như tổ đỉa. Đi mỏng. Trên khuôn mặt xám xịt của lưỡi cày chỉ còn thấy hai con mắt. Dưới chân thành phố là vực thẳm, đầy đói lạnh! Thủ phạm chính của sự “hờn dỗi” của thị trường chính là những “con đĩ” và những kẻ “trượt và xấu hổ!”. Thấy cô ấy vỗ túi khoe “bố cưng” là mắt “sưng” sáng lên ngay. “Làm” thị với anh tôi: “Ăn đi!”. Thị ăn liền bốn bát bánh, há hốc mồm khen: “Ha, ngon quá!”. Anh cũng rất giỏi pha trò, cũng biết chọc ghẹo như hầu hết các cô gái, khi nói với giọng rất khiêu khích: “Muốn bố thì kệ bố!”. Chỉ là một câu tầm thường “Ta không có vợ…”, nàng lập tức hùa theo, “Nàng trở về thật rồi”. Khi đứng trong căn phòng “trống…khô” của hai mẹ con, chị đảo mắt nhìn quanh, thất vọng “ưỡn bộ ngực gầy nén tiếng thở dài”.

              Từ điệu bộ, cử chỉ đến cách nói năng, đối đáp đều tròn trịa, thô lỗ và thô lỗ. Cô đã nhịn ăn nhiều ngày. cơn đói dày vò. Chết đói là cái chắc. Cần ăn để sống. Thị trấn cần nơi trú ẩn để tránh chết đói. Bản chất tốt đẹp của cô gái bị lu mờ bởi nạn đói và cái đói khủng khiếp. Thương tâm! Có khác gì ăn mày không?

              <3

              (tiếng lóng)

              Cô gái vô danh, đói khát này có bản chất tốt. Cách Jinlan kể và mô tả rất tử tế, vị tha và từ bi, và chúng tôi đã rất cảm động.

              Chỉ sau một ngày một đêm, sau khi trở thành vợ của Cologne và là “dâu mới” của bà già, ta thấy nhân vật này cũng như bao người phụ nữ khác, đều có những biểu hiện, tình cảm. những phụ nữ khác. Dù sắp chết nhưng cô gái vẫn khao khát hạnh phúc và muốn được như những người phụ nữ may mắn khác, được sống trong mái ấm gia đình, mái ấm yêu thương bên chồng và những đứa con. Trước những ánh mắt tò mò của hàng xóm láng giềng, chị “xấu hổ, bước nhẹ chân này sang chân kia”. Nghe lũ trẻ la lên “Anh ơi! Đôi hài”, thị “nhún mày” trước khi giơ tay “đá sau lưng” một cái. Cô vẫn chưa nhìn thấy bà cụ, và rất lo lắng và lo lắng cho “khuôn mặt tội nghiệp” đó. Đứng trước mặt mẹ chồng, chị tỏ ra đáng thương: “Ông ấy cúi gằm mặt, hai tay túm lấy góc áo xộc xệch”.

              Nghe bà cụ nói: “Ngồi đây. Ngồi đây cho đỡ mỏi chân”, anh “vẫn ngồi xổm tại chỗ”. Đó là tâm trạng của người con gái lấy chồng không trầu, không lá trầu, không lấy chồng. Xin lỗi vì tình huống này. Số phận không may. quá nghèo!

              Xem Thêm : Đề Thi Toán 10 Học Kì 2 Có Bài Giải Chi Tiết – Kiến Guru

              thinh cũng có nhiều cách nói “ngầu quá” rất nữ tính. Lần đầu tiên tôi xem “Glance and Smile”. Đánh đòn thích gọi: “con khỉ”. Nhẹ nhàng trách chồng: “…lâu quá rồi, em sốt ruột quá”. Một cái tát kèm theo câu yêu thương: “Chỉ có nhanh thôi. Bẩn quá!”. Sau bao ngày đói rét, lang thang các ngõ ngách và chết đói, cô trở thành vợ của Colon, và dù gặp nhiều thử thách, khó khăn nhưng cuộc đời cô đã thay đổi. Niềm vui trong đêm tân hôn là biểu hiện cảm động về khát vọng hạnh phúc của người phụ nữ nghèo. Hạnh phúc muộn màng nhưng quý giá! cây bút rực rỡ của kim uni thể hiện sự tôn trọng hạnh phúc và thay đổi cuộc sống của cặp đôi.

              Nhân vật Vợ có nhiều biến tấu hay. Hãy dậy sớm và cùng mẹ chồng dọn dẹp, lau chùi, cùng nhau xây dựng tổ ấm hạnh phúc. Tiếng chổi quét qua sân thị trấn hình như là niềm vui đang khuấy động trong lòng bà? “Xiao Jing” vào bếp chuẩn bị bữa sáng và nghĩ rằng vợ anh rất đáng yêu. Bà già có “cô dâu” và Dong Li có vợ. Có nhiều người, có nhiều món ăn, và có nhiều bàn tay. Thị trường đã mang lại sức sống và thông tin thời đại mới cho mẹ và bé. Nghe tiếng trống khai thuế, cô nói với mẹ chồng và chồng: “Ở Thái Nguyên, Giang Bắc, người ta không phải nộp thuế, kho thóc của Nhật chia cho người đói”. rằng vai trò của người vợ “dâu” cũng là một sứ giả cách mạng.

              Vai người vợ trong truyện “Vợ nhặt” là nhân chứng tố cáo, lên án Nhật, Pháp gây ra nạn đói năm 1945 khiến hơn hai triệu đồng bào Trung Quốc chết đói. Chết đi..nạn đói khủng khiếp mà chúng gây ra, hạ thấp phẩm giá con người, tước đoạt hết giá trị con người, biến người con gái thành con đĩ có thể “nhặt được”!

              Vợ gầy đói, về làm dâu, bà già quần áo rách như tổ đỉa, bữa cơm đầu tiên ở nhà chồng là cháo cám-hình đó, tập đó thật đáng thương. Đó cũng là nỗi đau, nỗi tủi nhục của dân tộc ta.

              Nhân vật người vợ trong truyện Vợ Nhặt nói lên một sự thật của cuộc đời. Giữa nghèo đói, đau thương, chết dần chết mòn, chúng ta vẫn khao khát một cuộc sống hạnh phúc, khỏe mạnh. Biết nương tựa vào nhau, chia sẻ của cải vật chất, thương yêu nhau, người nghèo khó có thể vượt qua những thử thách nghiêm trọng với niềm tin “ai giàu, ai khó, ai khó?” để đạt được ấm no, hạnh phúc và đổi thay cuộc sống? “… Còn có các vai bà lão, ông già, vợ, đã đóng vai trò thể hiện tư tưởng nhân đạo của tác phẩmVợ Nhặt.

              Phân tích tính cách người vợ – Ví dụ 14

              Kim Lân là nhà văn nông thôn Việt Nam với lối viết mộc mạc, giản dị và những nhân vật thôn dã điển hình. Lời nói của Kim Lan ăn sâu vào lòng người bởi sự giản dị, đời thường nhưng chan chứa tình yêu thương. Tác phẩm “Vợ Nhặt” là một “kiệt tác” của nền văn học hiện thực Việt Nam, tái hiện thành công xã hội nông dân nghèo khổ, cùng cực, bế tắc. Kim Lan đã xây dựng thành công tuyến nhân vật đại diện cho cuộc sống nghèo khổ thời bấy giờ. Bản chất của một người vợ là như vậy.

              Truyện ngắn Vợ Nhặt của Kim Lan ra đời năm 1945 khi đất nước đang trong nạn đói, nhân dân sống trong cảnh bần cùng, ba bốn xác chết nằm bên vệ đường. Mùi hôi thối của rác rưởi và xác người tràn ngập không khí. “Tác phẩm như tái hiện lại khung cảnh lúc bấy giờ. Ở một làng quê nhỏ nghèo, người dân quanh năm sống khổ cực, lại thêm cảnh bắt đóng thuế.

              Từ tựa đề cuốn sách, Kim Ran dẫn dắt người đọc khám phá cuộc sống của những người nghèo trong xã hội Việt Nam. Đó là “Vợ nhặt” chỉ những tình tiết, cốt truyện xảy ra xung quanh nhân vật người vợ nhặt trong tác phẩm. Từ “nhặt” gợi cho người đọc cảm giác về người con gái thấp hèn và gợi niềm xót thương cho số phận trần thế. “Con dâu Bảo” nghe quá chân thực, miêu tả một người phụ nữ đang sống cuộc sống khó khăn, không được hưởng hạnh phúc trọn vẹn, không một đám cưới nhỏ hay nói đúng hơn là không có đĩa cơm ngon, như một giấc mơ hão huyền khi cô về làm dâu nhà người ta.

              Mở đầu truyện ngắn, tác giả phác họa “anh đi loạng choạng, vừa đi vừa cười, quai hàm há ra…” Hình ảnh người em, chỉ qua vài chi tiết này, người đọc có thể hình dung ra một người đàn ông rách rưới. gương mặt xấu xí của người nông dân nghèo khổ. Kể từ ngày xảy ra nạn đói, bọn trẻ không thèm trêu chọc họ nữa, vì họ đã cạn kiệt sức lực. Vì cuộc sống quá vất vả đói khổ nên con người ngày càng mệt mỏi, suy nhược, từ trẻ đến già, trai gái đều mang theo mình những cay đắng của cuộc đời, dẫn đến những nếp nhăn, vết chân chim, làn da rám nắng, thân hình hốc hác, tiều tụy. .Trong cảnh hoàng hôn, suy nghĩ của ông được tái hiện “Bác bước đi mệt mỏi, tà áo nâu khoác một bên tay Hình như những lo toan đang đè nặng trên lưng ông” Bỗng một hôm, ông mang về một người phụ nữ xa lạ mà không ai quen biết trong một ngôi nhà nhỏ. làng bản. Trong cách miêu tả đầy ám ảnh của tác giả, “cô ấy tay xách một chiếc thúng nhỏ, đầu hơi cúi xuống, chiếc mũ tả tơi nghiêng che nửa khuôn mặt. Trông cô ấy có vẻ rụt rè, bẽn lẽn”. Một người phụ nữ nghèo không có gì, đi bên cạnh một người đàn ông cực kỳ nghèo, thực sự là một cặp trời sinh. Người phụ nữ có vẻ bạo dạn và vô ơn thực chất là một người vô cùng sợ hãi và có suy nghĩ giống phụ nữ. Sau khi cắp giỏ con về, tân lang cũng rụt rè đi theo, bị trêu thì cũng thẹn thùng như bao tân lang. Khi tôi về đến nhà và bảo cô ấy ngồi xuống, cô ấy chỉ ngồi trên giường, hai tay đan vào nhau, vẻ mặt lo lắng hiện rõ. Có lẽ cô ấy đang nghĩ về cuộc sống mới của hai vợ chồng, và cuộc sống của cô ấy sẽ đi về đâu.

              Về nhà, hình ảnh người mẹ già được Kim Lan khắc họa thật tinh tế và sâu sắc qua từng bước đi và sự thay đổi tính khí. Người đọc sẽ hiểu hơn tấm lòng của người mẹ bao dung, hiền hậu. Chi tiết “Bà cụ tần ngần theo con vào nhà, đi đến giữa sân thì khựng lại vì thấy trong nhà có một người đàn bà…”. Nỗi lo lắng của bà lão bắt đầu nổi lên. Nhưng rồi bà cũng hiểu, và cũng hiểu “bà lão cúi đầu lặng lẽ, bà lão hiểu. Người mẹ đáng thương cũng hiểu trong lòng còn bao nhiêu vấn vương, bà thở dài ngậm ngùi cho số phận đứa con. Than ôi, người ta được lấy chồng sinh con vì làm ăn thì làm ăn được, còn mình…’. Kim Uni thể hiện tâm tư đau đớn của bà lão qua hàng loạt động từ tình thái, khiến nỗi đau và cái đói trở nên rõ ràng, sờ thấy hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, vì thương con chỉ còn một chữ “yêu” mà cô liều lĩnh để mẹ chấp nhận cuộc sống vất vả, có thêm miệng ăn, thương hai bạn trẻ trước mặt: “ Thưa bà.” Anh nhìn người phụ nữ với vẻ thương hại. Cô bây giờ là con dâu của gia đình. “Có hai tình huống sẽ khiến người đọc không cầm được nước mắt, một là khi cả nhà ăn bữa cơm đầu tiên chào đón thành viên mới, hai là khi người mẹ già bưng nồi “chè phô mai” nghi ngút khói đến bữa ăn. Trong đó Trong thời buổi đói kém, người chết như củi, một gia đình như người đàn ông khó có bữa cơm tươm tất, bữa cơm này là “một mớ rau chuối lộn xộn giữa giẻ rách, một đĩa muối cháo, một gia đình Nhưng bà ăn khỏe lắm”. Thực sự bà nghèo đến kiệt quệ. Người vợ vẫn ăn không một lời than thở. Xứ chợ hơn ai hết. Bà nghèo gầy gầy, và cô trở thành vợ, con dâu của người khác vì tình yêu, đây cũng là một người rất dũng cảm và tháo vát, khi cô trở lại tu viện vào sáng sớm, cô đã dậy sớm để dọn dẹp và sửa sang nhà cửa vườn tược với bà ngoại Cô ấy dường như muốn xây dựng gia đình và bắt đầu một cuộc sống mới, cô ấy cũng rất vui vẻ và rất nhanh chóng thích nghi với cuộc sống mới. khát vọng tự do của bao người dân nghèo. Hoàn cảnh tiệc cưới nghèo thật khó quên đối với người đọc, Khi người đọc nhắc đến hình ảnh của tác phẩm này, họ sẽ không bao giờ quên hình ảnh “nồi cháo cám” trong buổi tiệc cưới đầu tiên. Hình ảnh của ” nồi cháo cám” là cảnh nghèo cùng cực của một gia đình “vô tích sự”. Ngày ăn hỏi, Gao Pan đón dâu và ăn uống no nê. Nhưng nhà nghèo, “nồi cháo cám” là thứ duy nhất mà một người bà có thể mang đến cho những đứa con của mình tràn đầy tình yêu thương. Sự cảm động và đồng cảm của những người nghèo khổ. Người trong gia đình này hóa ra lại là người phụ nữ trước đây lấy anh, đói khát và bướng bỉnh.

              Thông qua truyện ngắn Nhặt gái, Kim Nhân đã khắc họa thành công nhân vật người phụ nữ đi nhặt gái. Tác giả tập trung miêu tả động tác, cử chỉ, nét mặt của nhân vật, giúp người đọc hiểu được tâm lý phụ nữ. Tác giả đã lựa chọn những chi tiết rất phù hợp để bộc lộ số phận cũng như vẻ đẹp của nhân vật. Nhân vật người vợ có vai trò rất quan trọng trong việc làm nổi bật chủ đề tư tưởng của tác phẩm, đồng thời có vai trò quyết định trong việc hình thành tình huống truyện. Sống đúng bản chất tốt đẹp vốn có của người phụ nữ Việt Nam.

              Vợ nghe điện thoại – Ví dụ 15

              kim lan là nhà văn đã viết nhiều bài liên quan đến đời sống của người nông dân ở miền Bắc Việt Nam. Các tác phẩm của ông gồm “Đất Nước”, “Chọn Vợ”, “Con Chó Xấu”… viết về con người và đất nước. Tác phẩm “Tìm vợ” trong tập truyện “Con chó xấu xí” là một tác phẩm xuất sắc của Jin Wuni. Tác phẩm vừa chân thực kể lại nạn đói kinh hoàng năm 1945 vừa là lời ca ngợi vẻ đẹp nhân văn, khát vọng sống và niềm tin vào tương lai của những người nghèo. Dường như nạn đói định mệnh đã khiến con người ta quên đi phẩm giá, coi thường sự sống, thậm chí còn bàng hoàng trước câu chuyện hạnh phúc nhân sinh. Đặc điểm của chợ là những ví dụ điển hình về những nạn nhân bất hạnh của nạn đói đó.

              Tác phẩm “Đón con dâu” được viết sau cách mạng, tên sách là “Làng quê”. Tuy nhiên, do bản thảo bị thất lạc nên sau khi hòa bình lập lại, tác giả đã viết lại là “chọn vợ”. Trong tác phẩm có nhiều nhân vật nhưng nhân vật “vợ nhặt” là nhân vật gây được nhiều tiếng vang nhất đối với người đọc. Loại nhân vật này dựa trên sự đối lập giữa ngoại hình và nội tâm, trước và sau khi làm vợ.

              Đầu tiên, người vợ nhặt mang hình ảnh một người phụ nữ “nghèo nàn, bần hàn, liều lĩnh”. Vì đói, họ sẵn sàng mạo hiểm để có được thức ăn để tồn tại. Đằng sau vẻ ngoài vô tư đó là một con người đầy “nữ tính và tham vọng”. Nó giúp tôn vinh vẻ đẹp và khát vọng sống, vì ánh sáng mai sau của người phụ nữ. Tất cả những điều này tạo cho người đọc cảm giác được mang về người vợ của một nạn nhân nạn đói năm 1945.

              Nhìn vào độ dài của tác phẩm, Vợ nhặt đúng là một “người đàn bà nghèo và liều lĩnh”. Thị là một trong những nạn nhân của vô số nạn đói năm Đinh Dậu. Trong tác phẩm của Jin Lan, vợ anh xuất hiện từ hư không, không tên, không họ, không nơi sinh, không quê quán, và mọi thứ trong thị trấn chỉ là một con số. đầy. Không phải người viết không nêu được tên mà vì nàng là một con bèo trôi nổi trong nạn đói, một người đàn bà vô danh. Từ đầu đến cuối, nhân vật này chỉ được gọi là “cô”, “thị”, “nữ nhân”, “dâu mới”, “con nhà người ta”. Nhưng chính nhân vật này đã để lại nhiều ấn tượng cho người đọc, và nó tạo nên tiếng vang cho truyện ngắn Vợ nhặt.

              thị bị bão đói thổi dạt vào xứ này, sống qua ngày không biết ngày mai, nếu không có lúc “hát một bài cho đỡ buồn”. Thị trường thể hiện mình với một veneer không đẹp, không hấp dẫn. Vẻ ngoài của Thị được mô tả là “những nét không dễ thấy”. Đó là một người phụ nữ gầy guộc với “quần áo tả tơi”, “khuôn mặt lưỡi cày xám xịt” và “đôi mắt trũng sâu”. Có lẽ, sức tàn phá của nạn đói đã khiến thị trấn thêm xơ xác, người nghèo thêm đáng thương, người phụ nữ càng khốn khổ hơn. Cái đói không chỉ hủy hoại khuôn mặt mà cả nhân cách và phẩm giá của cô. Vì đói mà cô trở nên “vui vẻ”, “luộm thuộm”, “chua ngoa”. Có biểu hiện “cong” và “dừ” khi giao tiếp, nói năng. Cái đói đã làm cô quên đi lễ nghĩa và lòng tự trọng của cô gái này. Sau khi ăn no, cô định “ăn liền một mạch bốn bát bánh ngọt mà không nói lời nào”. Trên thương trường lúc bấy giờ, thức ăn để duy trì sự sống cao hơn nhân cách, và khi bạn chết, nhân cách không quan trọng.

              Đằng sau thân phận lang thang, vất vưởng, “vợ nhặt” là một khát vọng sống mãnh liệt. Cô đồng ý nghe theo vì cô muốn sống chứ không phải loại đàn bà làm nũng. Rủi ro thị trường Mọi thứ đều được ăn, và chỉ bằng cách ăn chúng ta mới có thể tồn tại. Đó là nhận thức về sự gắn bó với cuộc sống. Khi nói đùa, anh nói đùa: “Nếu em muốn về nhà với anh thì cứ ra xe lấy đồ, rồi chúng ta về chung một nhà”. Cô không trả lời, chỉ im lặng đi theo, gián tiếp đồng ý, không cần suy nghĩ hay do dự, xem ra hôn nhân càng ngày càng dễ dàng. Giá cho một người phụ nữ ít nhất là “ba trăm cho một người phụ nữ / mua đệm hoa để ngồi”. Tại đây, bà “hạ giá” bốn bát bánh thầu dầu, hai góc dầu và một thúng con. Có ai biết đoàn kịch này là ai, tốt hay xấu, từ đâu đến, nội dung của nó là gì? Một khúc hát bình dị, vài bát bánh đúc, nàng theo về làm vợ. Chợ, tràng chỉ dành cho dân sành ăn? Quá đơn giản, quá hời hợt? Thực chất, hành vi của cô xuất phát từ khát vọng sống. Bên bờ vực của cái chết, một người phụ nữ không từ bỏ cuộc sống của mình. Thay vào đó, cô ấy vẫn vượt qua sự ảm đạm của mình và bắt đầu một gia đình. Sự lạc quan yêu đời của thành phố là một phẩm chất rất đáng quý. kim lân nói thế này: “Khi viết về những người trong năm đói, người ta thường nghĩ đến những người chỉ muốn chết. Tôi muốn viết một truyện ngắn với một ý nghĩa khác. Trong một tình huống bi thảm, mặc dù nó đã cận kề cái chết.Nhưng những con người đó không hề nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng đến sự sống, vẫn hy vọng và tin tưởng vào tương lai.

              Trên đường đến nhà chồng, cô phải đối mặt với những ánh mắt “soi mói” và những lời giễu cợt, trêu chọc của người dân. Nếu một người đàn ông hạnh phúc, tự hào và tự hào, một người phụ nữ cảm thấy xấu hổ. Cô lúng túng và thiếu tự tin, “chân giẫm lên, chiếc mũ rách che mất nửa khuôn mặt”. Sự nữ tính ấy cũng chính là hình ảnh của người phụ nữ tự trọng. Trên thực tế, cơn đói đã đẩy cô sang bên phải. Bão tố cuộc đời đã đẩy hoàn cảnh cơ cực đó lên đôi vai của người đàn ông gồ ghề. Nhưng có lẽ đó chỉ là may mắn của cô. Bởi vì biết đâu, nếu không phải trò đùa của tràng giang đại hải, mấy ngày nữa, nàng có thể trở thành xác sống trong nạn đói này.

              kim uni rất tinh tế trong việc mô tả tâm lý và tính cách của thị trường. Nhà văn như chìm đắm trong những cảm xúc sâu lắng của người đàn bà đói khổ. Anh ta dường như đã nhìn thấy sự sỉ nhục trên đời, cho dù đó là những bước đi vội vàng, trong những bước cản đường nhau, đó là cả sự hối hận và xấu hổ. Ngay cả tiếng thở dài sâu thẳm đó cũng xứng đáng với sự thương hại và tình yêu của anh ấy. Đó là lúc bà trở lại khu nhà công vụ và “thở dài thườn thượt” khi nhìn thấy “ngôi nhà trống nằm co ro trong khu vườn cỏ dại mọc um tùm”. Đây là một tiếng thở dài bất lực, một sự thất vọng và một sự chấp nhận. Ai ngờ chiếc phao cô vừa nắm chặt lại bị đứt.

              Trong tiếng thở dài ấy không chỉ có nỗi lo cho ngày mai, tương lai mà còn có cả sự trăn trở, trách nhiệm với nhà chồng, phải chăng chị đã nhận thấy trách nhiệm của mình với tương lai? Cùng chồng xây dựng gia đình. Tấm lòng của cô quý giá biết bao. Hay có thể kim uni đã thổi vào tâm hồn cô sự lạc quan, cho cô niềm tin vào cuộc sống ngày mai. Quả thực, cô không tìm được chỗ dựa vật chất nào ở đàn tràng nhưng đó lại là chỗ dựa tinh thần vững chắc nhất cho cô lúc này. Một cuộc sống tình yêu như vậy cũng đáng giá.

              Đến đây, người đọc chợt nhận ra dưới vẻ ngoài đẫy đà, u ám, thực ra chị là một người phụ nữ dịu dàng, đoan trang, ân cần và đầy tự trọng. Khi bước vào phòng, cô ngượng ngùng và cẩn thận “ngồi” vào mép giường. Thể hiện lễ nghĩa, kính trọng, lịch sự khi chào cụ (hai tiếng chào). thị thể hiện mình là một người con dâu hiếu thảo và lễ phép với mẹ chồng.

              Sáng sớm hôm sau, cô dậy sớm cùng mẹ chồng dọn dẹp, dọn dẹp nhà cửa, căn nhà cũ giờ được xây mới hoàn toàn. , Cái “hờn dỗi” của chợ cũ không còn. Có vẻ như thị trường đã trở nên nữ tính hơn. Hơn ai hết, chị cảm nhận được “ruột già hôm nay khác lắm, người phụ nữ hiền lành, đoan trang rõ ràng không còn tự mãn, mềm yếu như hồi ngoại tỉnh gặp nhau”. Lúc này, tôi cảm thấy vợ mình đã thực sự thay đổi. Chính sức mạnh của tình yêu đã lay động và thay đổi con người.

              Bữa ăn cưới đầu tiên: Dù chỉ là “người một nồi cháo, người hai bát ăn hết”, phải ăn cháo cám nhưng chị vẫn rất vui và mãn nguyện. Thành khiến không khí gia đình trở nên thoải mái, thân mật hơn bao giờ hết. Thành phố là ngọn gió mát lành thổi vào cuộc sống của gia đình Côlômông, vào tâm hồn người lái xe cộc cằn, và vào gương mặt “đìu hiu” của bà cụ ngày nào nay đã rạng ngời rạng ngời. Thị trường đã mang lại sức sống và thông tin thời đại mới cho mẹ và bé. Khi nghe tiếng trống thúc thuế, cô nói với mẹ chồng: “Ở Thái Nguyên, Bắc Giang, người ta không nộp thuế nữa, thậm chí còn phá kho thóc của Nhật để cứu đói”. Kiến thức về thị trường này dường như giúp cô nhìn thấy con đường phía trước mà anh sẽ chọn. Qua đó ta cảm nhận được vai trò của người vợ “dâu” cũng chính là sứ giả của cách mạng.

              Có thể nói, nhân vật vợ nhặt được miêu tả nhỏ nhưng lại là một vai không thể thiếu trong tác phẩm. Thiếu tầm nhìn xa, đàn tràng chỉ là đàn già, bà cụ vẫn lặng im trong đau đớn, cùng cực. Hơi thở cuộc sống được thổi vào thành phố, một luồng gió mới thổi vào cuộc sống tối tăm và nghèo khổ của Köln, thắp lên niềm tin vào cuộc sống. Jinlan đã viết về những thay đổi trong tâm lý của cô ấy, bày tỏ sự tôn trọng và ngưỡng mộ của cô ấy đối với những phẩm chất tuyệt vời của người nghèo. Tình cảm nhân đạo của nhà văn được thể hiện trọn vẹn ở đây. Như vậy, hai quan điểm trên chúng tôi thấy đều đúng đắn và có cơ sở. Nghèo khó, cùng đường, liều lĩnh nhưng đáng thương hơn là chân chính, bởi đằng sau con đường liều lĩnh ấy là chất sống chất phác, đầy lòng tự trọng, khát khao vượt lên bi kịch đói khát, sống vì ánh sáng. sáng mai.

              Tóm lại, vợ nhặt là sản phẩm của kỳ lân. Thông qua nhân vật này, nhà văn thể hiện ý nghĩa nhân văn cao đẹp. Con người dù sống trong hoàn cảnh éo le nào cũng luôn nhìn về tương lai và không bao giờ mất niềm tin vào cuộc sống. Qua hình tượng của nhà văn, bộ mặt thối nát của bọn thực dân, bọn áp bức cường quyền được phơi bày, chính vì tội ác của chúng mà thân phận con người đáng bằng bát bánh canh. Họ chịu trách nhiệm phá hủy tương lai của rất nhiều người. chính thi là một hình ảnh do nhà văn kim lan tạo ra để nói với mọi người và những kẻ xã hội đen rằng phụ nữ Việt Nam, đặc biệt là người Việt Nam, sẽ không bao giờ từ bỏ cuộc sống của mình ở bất cứ đâu dù trong hoàn cảnh nào.

              Nhân vật người vợ nghe điện thoại – mẫu 16

              Kim Lân là một trong số ít nhà văn viết thành công về cái nghèo và cái đói, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Khi viết về cái đói, Jin Qilin không chỉ gợi lên sự đồng cảm, thương hại mà còn tạo ra cảm giác sợ hãi, ám ảnh về sức tàn phá của nó đối với nhân phẩm và thể xác con người. Tuy nhiên, với thông điệp “tin người”, hầu hết các nhân vật của Kim Yoni luôn trở về với bản chất tốt bụng và đáng quý của mình khi kết thúc câu chuyện. Đại diện cho kiểu nhân vật này là người vợ nhặt trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn. Đây là một nhân vật bị thúc đẩy bởi cơn đói, sẵn sàng từ bỏ phẩm giá của mình và nhắm mắt đi theo một người lạ để kiếm miếng ăn. Nhưng, đâu đó trong con người con người luôn có phẩm chất đáng trân trọng của người phụ nữ truyền thống: bản lĩnh, đảm đang, vun vén gia đình và đầy dịu dàng tế nhị.

              Nhặt Vợ là truyện ngắn viết năm 1945 kể về nạn đói lớn năm Dầu, một trong những thảm họa khủng khiếp nhất trong lịch sử nước ta, cướp đi sinh mạng của hơn 2 triệu người. kim uni đã tạo ra cảnh ‘tối tăm bởi cái đói’. Ở đó, “người chết như que củi, dân làng đi chợ, đi làm đồng không buổi sáng nào không thấy ba bốn xác người nằm bên vệ đường”. Những người sống bàng hoàng, đau khổ vì còn sống nhưng lại đinh ninh rằng cái chết đang chờ đón mình. Nạn đói hoành hành. Cái đói và cái chết đẩy con người vào tình thế nguy hiểm đến tính mạng. Địa ngục trần gian nối tiếp nhau, khoảng cách giữa sự sống và cái chết ngày càng mong manh.

              Nhân vật người vợ nhặt xuất hiện trong tác phẩm, không có tên tuổi, lai lịch, quê quán, họ hàng thân thích. Kim Ngọc đã dùng đại từ “dạy, cô, đàn bà” để chỉ nhân vật này, cho thấy thân phận yếu đuối đáng thương của nhân vật. “Thị trường” có thể là bất cứ người phụ nữ nghèo khổ, khốn khổ nào ngoài kia cũng đang chết dần chết mòn hình hài và nhân phẩm trong nạn đói. Chỉ trong vài từ miêu tả, khuôn mặt của Jin Wuni lộ rõ ​​​​vẻ thèm thuồng: “Quần áo rách nát như tổ đỉa, ngày càng gầy đi, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt, chỉ còn lại đống đổ nát. Hai con mắt.” hình ảnh của những bóng ma, xác chết hơn là con người. Ngôi chợ này đại diện cho hàng triệu người nghèo khổ, đói khát, kiếm miếng ăn để rồi chết ở cuối đường.

              Không chỉ ngoại hình, mà cả sự nữ tính dịu dàng, chân chất của những người phụ nữ phố thị cũng bị cái đói bóp méo. Táo bạo, táo bạo đến mức trơ trẽn, thậm chí đáng xấu hổ.

              Lần đầu tiên nhìn thấy chị, chỉ vì câu nói “hehe để chị vất vả”: “Giờ muốn ăn cơm trắng/ Lại đây đẩy xe bò với em”, chị đã níu chặt và “đứng lên”. Dậy “xế lấy tràng. Lần thứ hai, nàng đến trước cánh đồng “Nỗi nhớ tình xưa” đang âm ỉ “. Sau đó, thị không hổ thẹn” ngồi một chỗ ăn bốn bát miếng bánh không biết nói”. Trong mắt chúng tôi, Sao mà vô ơn, vô liêm sỉ đến thế. Chợ hành động theo bản năng sinh tồn, cái đói làm mờ đi phẩm giá của chợ. Dù lấy chồng, về chung một nhà, sống cả đời, cô ấy hoàn toàn do bản năng quyết định Vine nói đùa trong nhóm: “Chuyện này đùa đấy, về ở với anh thì lên xe lấy đồ rồi cùng nhau về”, nhưng “cô ấy về thật rồi “. Không cần hẹn hò, không cần cưới hỏi, không cần món ăn, không cần thức ăn Ăn một miếng.

              Nhưng đáng thương hơn là đáng tiếc. Cô vẫn bị mang tiếng là phản bội nhân cách, hạ thấp phẩm giá của mình, lấy chồng một cách mỉa mai và cay độc, bị nhặt như đồ bỏ. Nhưng nhìn chung, con người thành thị được sinh ra từ sự tất yếu của cái đói, khát khao sinh tồn và bản năng sinh tồn. Nó giống như một người vùng vẫy trong cơn lũ, chỉ với một cánh tay vươn ra, tuy nhỏ bé và yếu ớt nhưng nó vẫn mang lại hy vọng sống. Không có gì sai khi cô ấy cố gắng nắm lấy bàn tay kia của mình, và không có gì xấu hổ về điều đó. Nhiều người đàn ông đang “chiến đấu” giữa sự sống và cái chết cũng sẽ đưa ra lựa chọn tương tự, huống hồ là một người phụ nữ bình thường.

              Tuy nhiên, kim uni vẫn không ngừng khắc họa tính cách bạc tình trắng trợn này của vợ mình. Thông điệp của các nhà văn viết về nạn đói được biết đến là “hãy tin vào con người”. Vì vậy, xét về tính cách lấy vợ có sự đối lập giữa bên ngoài và bên trong, trước sau như một. Nếu lúc đầu cô ấy cong, gầy và nói nhiều thì sau khi trở về nhà, cô ấy trở lại thành một người phụ nữ có tâm hồn đáng quý và đáng yêu.

              Thị cũng cảm thấy xấu hổ, ngượng ngùng như bao cô gái lần đầu về nhà chồng, trên đường về, khi biết mọi người xung quanh đang theo dõi mình, thị đã bị “giậm chân tại chỗ”. “chân còn lại. ’. Đằng sau vẻ ngoài rách rưới, xấu xí, chị cũng có lòng tự trọng. Chị hiểu vì sao người ta nhìn chị mà xì xào, trong cơn đói khát, khi tình yêu là thứ xa xỉ, họ dắt nhau về “biết có vượt qua được đây không. “. Về đến nhà, cô ấy chỉ dám “ngồi ở mép giường, hai tay ôm lấy chiếc giỏ, mặt buồn rười rượi”. Tiếp đến, “cô ấy vẫn đứng nguyên tại chỗ”. hành động “vung tay lên trán” và mắng Ái: “Nhanh quá. “dơ bẩn!”. Thị giường dường như đã thay đổi thành một con người hoàn toàn khác, giống như một thiếu nữ e thẹn mới về nhà chồng, nhưng không còn là người đàn bà chua ngoa, chua ngoa như xưa nữa.

              Là một người vợ, hãy là một người phụ nữ đảm đang, bản lĩnh, đảm đang, biết quán xuyến gia đình, “nữ công gia chánh”. Như cơn gió mát lành thổi vào cuộc đời u ám của mẹ con tôi. Dưới bàn tay của người phụ nữ, mọi thứ được sắp xếp một cách có trật tự. “Nhà cửa, ruộng vườn hôm nay được quét dọn sạch sẽ, tươm tất. Vài cái giẻ rách như tổ đỉa chui rúc trong xó nhà mười mấy năm được mang ra sân”. để khô dưới gốc cây ổi Phơi khô, chứa đầy nước. Một đống mùn rải khắp lối đi hát sạch sẽ. Đó chỉ là những thay đổi rất nhỏ nhưng dường như đã mang đến một thế giới khác cho hai mẹ con, còn Klô-ni-a thì cảm thấy “trong lòng vỡ òa một niềm vui và phấn khởi”, khuôn mặt nặng trĩu bỗng bừng sáng”. Kết thúc câu chuyện, người vợ trong lòng lên rất nhiều kế hoạch với hy vọng đổi đời, cô nói: “Trên mạng ở Bắc Giang Thái Nguyên, người ta không còn đóng thuế nữa. Anh ta thậm chí còn phá hủy kho thóc trong ngày và phân phát cho người đói. Chính câu nói của chị đã khiến đầu chị “đói, cờ đỏ bay phấp phới”, có lẽ chẳng bao lâu nữa, anh cũng sẽ đứng vào hàng ngũ những kẻ đi phá kho thóc hàng ngày và thay đổi số phận của bản thân và gia đình. bản chất con người thật là nghĩa tình. Hai mẹ con sẵn sàng nhịn đói sau lưng người khác, biết đâu lại được nhiều hơn thì chính người phụ nữ đói khát đã hồi sinh cuộc đời của họ một lần nữa.

              Không chỉ làm tròn trách nhiệm của một người vợ, một người con dâu trong gia đình, vai trò của người vợ còn là một người phụ nữ biết phục tùng, biết hy sinh và biết cảm thông. Theo chân một người đàn ông xa lạ về nhà, cô mong có một nơi nương tựa để vượt qua cơn đói khát. Tuy nhiên, khi trở lại tu viện, nhìn hoàn cảnh gia đình của mẹ con anh, chị không khỏi thở dài ngao ngán. Điều này khiến cô không khỏi bất lực trước số phận trớ trêu của mình, xót xa trước hoàn cảnh mới. Dù vậy, cô vẫn không rời đi, lòng biết ơn và sự ngoan ngoãn của cô đã giúp cô sát cánh cùng hai mẹ con, cùng nhau hướng tới một tương lai tươi sáng. Bữa ăn đầu tiên rất đơn giản, một người hai bát cháo, còn một bát thì cạn. Khi mẹ chồng bưng bát cháo cám lên, chị “mắt thâm quầng” nhưng vẫn “bình thản bỏ vào miệng”. Hòa nhập vào cuộc sống gia đình. Bát cháo đắng nghét ngang cổ khiến chị chạnh lòng, nhưng chị không hề tỏ ra thất vọng hay bực bội, bởi chị hiểu hoàn cảnh gia đình chồng. Có lẽ, hơn ai hết chị hiểu rằng, chính hai con người đáng thương này đã không ngại nghèo khó, đùm bọc, với chị, họ vừa là ân nhân, vừa là ân nhân. Hơn nữa, không có ruột già, lại có bà già, cháo cám còn không ăn nổi, đành phải chết đói ở góc đường.

              Tuy chỉ có một vài đoạn miêu tả vai người vợ nhặt được kỳ lân vàng nhưng đó vẫn là một vai không thể thiếu trong tác phẩm. Đây không chỉ là nhân vật mang thông điệp rất nhân văn của nhà văn, khẳng định niềm tin vào những phẩm chất tốt đẹp của con người mà còn là nhân tố tạo nên sự chuyển biến độc đáo của tác phẩm. Nếu không có chợ, hai mẹ con sẽ mãi mãi bị chôn vùi trong cuộc sống yên bình tăm tối, với câu chuyện có thể sẽ kết thúc bi thảm và tồi tệ hơn, trong khi không thể giết được. Thật đau buồn sâu sắc để đọc.

              Thông qua hình tượng nhân vật nhặt được vợ, Jin Youni đã để lại cho độc giả nhiều chiêm nghiệm sâu sắc. Đó có thể là một thông điệp: Đôi khi những gì chúng ta thấy tận mắt chưa chắc đã là sự thật, xin đừng đánh giá con người qua hình ảnh hay hành vi nhất thời của họ, chỉ có thời gian mới cho câu trả lời hoàn hảo. .Tính tình có thể đanh đá, chua ngoa, trơ trẽn trước hiểm họa của cái đói, nhưng bản chất là người phụ nữ có phẩm chất tốt đẹp, đáng quý, nếu chồng không cho mình cơ hội thì sẽ không bao giờ có được. . Đó cũng có thể là một triết lý về sức mạnh của tình yêu thương trong con người, và khi cho đi nó ta sẽ nhận được một thứ vô giá hơn. Nó như được chở che bởi hai mẹ con, làm cho cuộc sống của họ trở nên mới mẻ hơn, tốt đẹp hơn và đáng sống hơn. Có thể nói, nhân vật này không chỉ cho ta cách hiểu mới về con người mà còn khơi dậy ở người đọc sự đồng cảm, thấm thía trước hoàn cảnh éo le, nghèo khổ và cái chết của người phụ nữ.

              Nhân vật trong Vợ Nghe Điện Thoại – Mẫu 17

              “Vợ Nhặt” là tác phẩm đặc sắc và tiêu biểu nhất trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn Kim Vô Kỵ. Nội dung câu chuyện kể về người anh ở khu dân cư và anh là người đánh xe bò thuê. Đang đói sắp chết mà vẫn không đủ ăn, bỗng nhiên ông dám cõng vợ đi đón. Kim Uni đã tạo ra một tình huống lấy vợ vô cùng độc đáo, đồng thời khắc họa được tính cách của từng nhân vật bằng ngôn ngữ bình dân tự nhiên, giản dị. Mọi nhân vật đều được đưa vào cuộc sống, từ bà cụ đến em trai và vợ nhặt chúng.

              Ngay tên truyện cũng do vợ đặt, gợi cho tôi nhiều điều thú vị. Tác giả đã chọn nhân vật người vợ và miêu tả rất tinh tế, phù hợp với diễn biến tình cảm trong nhiều tình huống. Vào thời khắc sinh tử nguy cấp, cô đã mang lại niềm vui ấm áp và hạnh phúc gia đình cho hai mẹ con. Vì vậy, nhân vật này chứa đựng ý nghĩa nhân văn sâu sắc, góp phần nâng cao giá trị hiện thực và nhân văn của tác phẩm.

              Thông thường, các nhân vật trong tác phẩm, dù chính hay phụ, đều được gọi bằng một cái tên để phân biệt nhân vật này với nhân vật khác. Đôi khi, tên các nhân vật cũng hàm ý một ý đồ nào đó của tác giả hoặc có thể nói lên chủ đề của tác phẩm. Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lan từng được nhà văn Nguyễn Khải nhận xét: “Chuyện tưởng như không có gì nhưng lại có sức lay động lòng người”. Vì vậy, khi tác giả cố tình không đặt tên cho các nhân vật của mình mà dùng nhân vật không tên làm nhan đề cho tác phẩm, hẳn ông phải có dụng ý nghệ thuật sâu sắc.

              Cốt truyện xoay quanh sự kiện “cưới vợ” đầy bất ngờ và trớ trêu. Nhà buôn chỉ có hai mẹ con và sống ở một xóm nghèo gần chợ. Là người ở, đàn tràng bị khinh thường. Ngoài ra, ông ta già và xấu xí và không có vợ. Trong hoàn cảnh bình thường, anh ta sẽ không thể cưới vợ, nhưng trong nạn đói lớn, anh ta “cưới” một “vợ” theo cách tầm thường, cưới không ra gì.

              Nhân vật được vợ nhặt về xuất hiện trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Mọi người đang chết đói. Quạ đang bay trên bầu trời như những đám mây đen. Đám đông người chạy đói từ phía nam Dinnan, và nơi yên bình lan rộng như những bóng ma xanh và xám giữa các lều của chợ. Mùi hôi thối của rác rưởi và xác người tràn ngập không khí.

              Có ai biết cội nguồn của cô ấy ở đâu không? Cha mẹ là ai? Bạn ổn chứ? không. Tất cả những gì tôi biết là ngày qua ngày, cô ấy ngồi giữa những người phụ nữ và những cô gái tập trung trước nhà kho, hoặc nhanh chóng nhặt những hạt rơi vãi hoặc chờ người thuê và làm bất cứ điều gì họ muốn để kiếm sống. Về ngoại hình, cô ấy cũng giống như bao người đói: quần áo rách nát, như tổ đỉa… Cô ấy gầy gò, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt, chỉ còn nhìn thấy hai con mắt… Cô ấy là hiện thân của hàng nghìn người. Con người nghèo khổ, đói khát, đi tìm cái ăn, và chết ở cuối đường.

              Lần đầu tiên cô xuất hiện trước khán giả với cách nói và đối đáp rất táo bạo. Tôi thuộc lòng những câu chuyện cười của anh ấy và của mọi người. Khi nghe khẩu hiệu: Em muốn ăn cơm trắng mà mấy cái chân này đến đẩy xe bò theo, bị mấy bạn trêu chọc… Cô cười như điên, nói với đám đông: Cả nhà ơi, nói thật hay khoác lác? Thilonton chạy đến đẩy xe, đùa giỡn với anh ta và nhìn anh ta, điều mà anh ta rất thích.

              Đó là tất cả những gì đã xảy ra, tôi quên mất. Lần sau, sau khi trả hàng xong, anh đang ngồi uống nước ở cửa Chợ Vui thì Chợ Vui chạy đến một cái, giận dỗi mắng anh: Trời ạ! Một người đàn ông như vậy! Hôm đó, anh ta té tát vào mồm cho mất mặt. Khi gặp lại cô ấy, tôi đã không nhận ra cô ấy vì cô ấy quá khác. Một lúc sau, tôi sực nhớ ra, mạnh dạn cười: bây giờ ngồi ăn ngon. Cô lắp bắp nói: Anh muốn ăn gì thì ăn, đừng ăn đồ nhiều dầu mỡ. Khi cô ấy nhìn thấy cha vỗ vào túi, đôi mắt trũng sâu của cô ấy bỗng sáng lên và cô ấy nói: Ngon quá! Vâng, bạn có thể ăn những gì bạn sợ.

              Cô ấy đói. chết đói! Cô đói đến mức hoàn toàn quên mất thế nào là một cô gái đứng trước một người đàn ông mà cô chỉ gặp một hai lần: ăn một bát hay bốn cái bánh mà không nói một lời. Ăn xong, cô cầm đũa đưa lên miệng vừa thở vừa thốt lên: Ha, ngon quá! Tôi ăn như chưa từng ăn, một ngày không đói, một tuần liền đói, sắp chết đói.

              Thật vậy, cái đói đã làm đảo lộn thể diện và cá tính. Tuy nhiên, sau khi ăn xong, cô cũng biết nói đùa để giảm bớt cảm giác xấu hổ: thấy thiếu tiền nên bỏ bố. Chuck: Anh chưa có vợ, rồi bật thốt lên: Đùa thế này mà nó về với anh, anh lấy đồ lên xe về luôn. Tôi nghĩ đó là một trò đùa, nhưng cô ấy đã quay lại với tôi. Vì vậy, cô trở thành vợ như một trò đùa. Hay như tác giả đã nói, một câu chuyện phù phiếm, không nhất thiết phải đến hai lần mà thành đôi.

              Người phụ nữ chấp nhận một người đàn ông xa lạ xấu xí, trước là có miếng ăn, sau là có chỗ ở, không chết đói, nhưng đối với anh ta lại không hề có tình cảm. ? ! Cô nghĩ mình cũng xấu hổ nên trên đường cùng “chồng” về nhà, cô chẳng biết nói gì, thấy mọi người tò mò nhìn mình, cô vừa thấy xấu hổ vừa bực mình.

              Người đàn ông mới quen biết vài lần nay hào phóng đãi anh ta một bữa no nê, hơn nữa không biết tính cách, gia cảnh, chỉ nghe nói anh ta chưa có vợ, cô ta liền theo ngay, không cần do dự, không sợ hãi. Liều lĩnh? Cả tin? ai quan tâm! Ăn với anh ta, sống đầu tiên! Vợ chồng là chuyện lâu dài, ai biết tính trước tính sau. Lúc này không chết đói mới là quan trọng nhất. Mọi thứ khác chỉ là thứ yếu. Thế mới biết cái đói khủng khiếp, khủng khiếp như thế nào!

              Trên đường về, cô xấu hổ, bẽ bàng, lo lắng, áy náy, xấu hổ, tủi nhục, vì dù bị dồn vào đường cùng cũng không thoát khỏi tiếng là đàn bà. “Phụ nữ cổ điển” mang đầy những định kiến ​​nặng nề trong xã hội phong kiến ​​bấy giờ. Vẫn lo lắng, băn khoăn, bởi không biết người đàn ông mà cô liều mạng theo làm vợ này liệu có giúp cô thoát khỏi cảnh chết đói, gia đình có thông cảm và chấp nhận cô hay không?

              Khi câu chuyện về “bà xã” đến quá đột ngột, khiến cô không khỏi bồn chồn. Ngoài tư thế cạnh tranh không bình thường của cô ấy, sự nhút nhát và vụng về của cô ấy được nhấn mạnh: người phụ nữ chỉ cách anh ta ba hoặc bốn bước. Thị xách chiếc thúng nhỏ, đầu hơi cúi thấp, chiếc nón tả tơi nghiêng che nửa khuôn mặt. Tác giả rất hiểu tâm trạng của người phụ nữ sau khi dấn thân vào con đường xa lạ, thể hiện những suy nghĩ bên trong của cô ấy. Được mời về làm vợ và theo anh về nhà ra mắt, cô ra dáng một cô dâu năm nhất cấp 2 nhẹ nhàng và thoải mái. Có lẽ với cô ấy, con đường đó còn dài, bởi cô ấy không biết điều gì đang đợi mình ở phía trước, liệu cô ấy có dễ dàng chấp nhận? Liệu hành vi “đánh cược cả đôi mắt và đôi chân” này sẽ mang lại cho cô hạnh phúc ấm áp hay còn tồi tệ và đau đớn hơn tình cảnh hiện tại của cô? ! Quá nhiều lo lắng và không chắc chắn khiến cô sốt ruột đặt câu hỏi: Nó có đến không? Vẫn không ở đây? Lại nói: Có ai trong nhà không?

              Khi đến tịnh xá, cô nhìn thấy ngôi nhà trống nằm lọt thỏm trong khu vườn cây cối um tùm, trong nhà lỉnh kỉnh xoong nồi, quần áo, giường chiếu… Cô không khỏi thở dài. Vậy ra đó là gia cảnh của anh chàng vỗ túi khoe bố hồi trưa! Bạn vẫn biết làm thế nào để làm điều đó? Công việc hoàn thành! Chạnh lòng, buồn bã, cay đắng nên mặc cho những lời giễu cợt, cô nhếch mép cười nhẹ. Mời ngồi, cô ấy đang ngồi bên giường, hai tay ôm chiếc giỏ, vẻ mặt đau khổ…

              Ở chi tiết tưởng chừng như trần tục này lại mô tả rất chi tiết tính nghệ thuật của con kỳ lân bằng kim loại. Tại sao cô ấy lại ngồi ở mép giường khi được yêu cầu ngồi xuống? Vì vậy, chỗ ngồi tạm thời, dành riêng đó cũng là chỗ ngồi của sự nhầm lẫn. Ghế này là của bạn à? Mái nhà lụp xụp đổ nát này có thích hợp để ở không? Đặc biệt là cảnh cô ấy đang bưng cái giỏ với hai tay ôm mặt.

              Chẳng lẽ nhà hai mẹ con chật chội quá, mẹ không biết để giỏ ở đâu? Hay vì cái giỏ bây giờ là tài sản duy nhất nên bạn miễn cưỡng bỏ đi? Hay cô ấy sẽ rời đi ngay lập tức? Cô vô tình choáng váng vì quá mải mê nghĩ đến việc bỗng dưng được làm vợ anh. Nó có thật, nhưng nó không có thật, và thật khó để tin nó có thật. Đây có phải là một người vợ và một cô dâu là tất cả về? Kết hôn, kết hôn, kết hôn… Nàng không thể hưởng thụ hạnh phúc lớn nhất đời nữ nhân sao? buồn! rất xin lỗi! Cô ấy không nói nên lời, bởi vì nếu cô ấy nói, cô ấy chắc chắn sẽ khóc. Đau không rơi nước mắt thì chảy ngược nên càng đau càng đau.

              Bị rơi vào cảnh phải chạy theo dấu hai chấm, cô vừa buồn vừa xấu hổ. Thấy bà già nó ngượng ngùng im bặt. Trước cuộc gặp gỡ, môi trường khó khăn khiến cô ấy đôi khi táo tợn, nhưng đó không phải là bản chất của cô ấy. Tuy nhiên, ngòi kim uni không chỉ tinh tế mà còn rất thân thiện. Anh không muốn đào sâu thêm những tình huống trớ trêu buồn đau đến đau lòng. Trong khi viết truyện ngắn, Vợ nhặt đã chứng kiến ​​nạn đói khủng khiếp do phát xít Nhật và thực dân Pháp gây ra đầu năm Ất Dậu (1945) khiến hơn hai triệu đồng bào từ Bắc chí Trung Bộ chết đói, nhưng dù hoàn cảnh có éo le đến đâu, thậm chí bên bờ vực của Hậu cái chết, nhân vật của Jin Haini vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn tin vào cuộc sống, tràn đầy hy vọng vào tương lai và vẫn muốn sống một kiếp người.

              Cuối truyện, khát vọng sống và hạnh phúc mãnh liệt của nhân vật được bộc lộ một cách chân chất và tự nhiên. Dù tìm không đủ nhưng khi biết trong phòng chỉ còn một mình mẹ già, chị cũng trút bỏ được áy náy. Tôi biết rằng khả năng bị từ chối và trục xuất ít hơn. Đây chẳng phải đã là một nửa cuộc đời rồi sao?

              Trước sự đồng cảm, sẵn sàng chấp nhận, săn sóc của người mẹ già, chị đã trở thành một người đàn bà khác. Nếu như hôm qua cái đói đã cướp đi vẻ nữ tính của nàng thì hôm nay, sau một bữa ăn ngon và một giấc ngủ ấm áp dưới mái nhà êm ấm, vẻ đẹp ấy đã trở lại với nàng. Cô bắt đầu nuôi dưỡng tổ ấm của mình. Cô dọn dẹp sân và đổ đầy bể nước. Dưới bàn tay chăm sóc của mẹ, căn nhà dột nát, tối tăm của hai mẹ con trông sáng sủa, ngăn nắp. Sự sống đã trở lại với người và cảnh. Sự thay đổi khiến cô bất ngờ: ngoại hình hôm nay khác rất nhiều, có thể thấy người phụ nữ đoan chính, dịu dàng không còn là vẻ ngoài khô khan, mềm yếu mà cô nhiều lần thấy ở ngoài tỉnh. Đến bây giờ cô mới cảm nhận được cuộc hôn nhân của mình là có thật. Một người phụ nữ vô danh nhưng không vô nghĩa, vì chị đã mang lại niềm vui và sức sống cho hai mẹ con.

              Vẻ đẹp nội tâm của người vợ được chọn còn thể hiện ở một chi tiết nhỏ. Bữa cơm đầu tiên ở nhà chồng, khi mẹ chồng bưng bát chè trấu vào, mắt cô lim dim một lúc nhưng nhanh chóng trấn tĩnh lại và cho vào miệng. Đó là một chi tiết rất đắt giá cho thấy sự nhạy bén và khéo léo trong cách ứng xử của người phụ nữ tưởng chừng như ít học ấy. Cô hiểu hoàn cảnh của hai mẹ con nhưng cô không muốn làm mất đi niềm vui của bà lão tội nghiệp. Bà rất vui vì cuối cùng đứa con trai trung niên xấu xí, tội nghiệp của mình cũng có vợ, dù cô chỉ là một cô gái bán hàng rong.

              Điều thú vị nhất là người nói về những chuyện vui vẻ sau bữa ăn đó lại là một bà già gần đất xa trời; chị dâu của một người phụ nữ không quen biết ở chỗ làm. Hình ảnh những đoàn người lầm lũi qua đê và những lá cờ đỏ phấp phới trong tâm trí quần chúng báo hiệu sự đổi thay sắp xảy ra. Hình ảnh ấy như một cơn gió thoảng qua, cuốn đi bầu không khí ngột ngạt của câu chuyện buồn này.

              Nhiều người cho rằng, trong truyện ngắn Người vợ nghe điện thoại, nhân vật người mẹ nhân hậu, từng trải của bà lão đã lay động người đọc nhiều nhất. Đúng, nhưng đọc đến mấy dòng cuối, điều hiện lên trong đầu người đọc là hình ảnh vợ anh đang tiếp khách. Bằng lối miêu tả chân thực, sống động và tinh tế, nhà văn Kim Dịch đã xây dựng thành công hình ảnh một cặp vợ chồng son.

              Đó là minh chứng đầy ý nghĩa để tố cáo, tố cáo tội ác ghê tởm của luật pháp Nhật Bản đã gây ra nạn đói khủng khiếp khiến nhân dân ta lầm than, không được sống một cuộc sống đúng nghĩa con người. Nhà văn Kim Lan khẳng định một cách gián tiếp qua tác phẩm Vợ mình: trong hoàn cảnh nghèo khó, đau khổ, chết chóc, nếu những người nghèo biết nương tựa vào nhau, sẻ chia của cải vật chất, thương yêu nhau thì có thể tự cứu mình, nghĩa là tự cứu mình. khác. Một người như vậy chắc chắn sẽ sống một cuộc sống đầy đủ và hạnh phúc.

              Phân tích tính cách người vợ nhặt – mẫu 18

              Kim Lân sinh năm 1920, mất năm 2007. Tên thật là Nguyễn Văn Thái. Ông sinh ra ở Phù Lưu, Sín Hồng, tỉnh Bắc Ninh. Khi còn nhỏ, gia đình rất nghèo nên anh chỉ học hết tiểu học rồi ra ngoài làm việc. “Vợ Nhặt” là một trong những truyện ngắn thể hiện phong cách viết độc đáo của tác giả Kim Nhân. Nội dung truyện xoay quanh các nhân vật Cô-lôm-bô, bà cụ và người vợ nhặt. Trong số đó, hình ảnh những cô gái nhặt rác tuy chỉ xuất hiện thoáng qua nhưng lại đóng vai trò quan trọng tạo nên thành công cho tác phẩm này.

              Qua lời giới thiệu của nhà văn Kim Vô Kỵ, độc giả có thể thấy người vợ xuất hiện trong một hoàn cảnh vô cùng đặc biệt. Đó là nạn đói năm 1945. Đó là nạn đói lớn nhất trong lịch sử Việt Nam trong lịch sử được ghi lại, giết chết hơn 2 triệu người. Do đó, nguồn gốc của người vợ nhặt là không rõ. Không có gia đình thì không có đất nước. Hoàn cảnh của người phụ nữ này cũng giống như những người khác vào thời điểm đó, và tất cả họ đều phải đi kiếm ăn. Chỉ biết rằng “giữa cái bóng tối đói khát ấy, một buổi trưa nọ, một người phụ nữ khác bất ngờ được hàng xóm phát hiện”. Không ai biết tôi đến từ đâu, tôi thậm chí còn không có tên. Mọi người chỉ tạm gọi người phụ nữ đó là “Chọn vợ”. Có thể thấy số phận hẩm hiu của những người nghèo qua cuộc điện thoại này. Anh ta thường muốn cưới được một người vợ phải trải qua rất nhiều thủ tục cưới hỏi và tiêu tốn rất nhiều tiền. Nhưng chỉ cần nhân vật ra đường “nhặt được” là có ngay vợ bằng xương bằng thịt.

              Jin Lan mô tả ngoại hình của vợ mình rách rưới và nghèo đến mức không thể nghèo hơn được nữa: “Hôm nay cô ấy tả tơi, quần áo rách như tổ đỉa, gầy guộc, mặt mũi phờ phạc. tro tàn, và cô ấy chỉ có thể nhìn thấy hai con mắt.”

              Trong khi cùng khán giả lắng nghe những bài hát vui nhộn, hình ảnh người vợ nhặt lần đầu tiên hiện lên hồn nhiên, ngây thơ. Lúc đó, cô không nghĩ ngợi gì cả, vui vẻ chạy ra giúp đẩy xe bò, nhìn một lượt rồi cười nói với mọi người. Đó chính là sự hồn nhiên, ngây thơ vốn có của người lao động nghèo.

              Nó xuất hiện lần thứ hai với nét rõ hơn. Đó là khi được mời ăn trầu để trả ơn, bà bỗng trở nên cáu bẳn và mắng mỏ thẳng thừng. Muốn một cái gì đó có giá trị hơn. Vì vậy, khi được mời ăn bánh cuốn, cô không ngần ngại mà lập tức mắt sáng lên và sà xuống “ăn liền bốn bát bánh”. Thông thường, phụ nữ sẽ lịch sự và ăn uống từ tốn. Nhưng bây giờ, dường như cơn đói đã làm mù mắt cô, khiến cô không thiết tha duy trì sự tỉnh táo. Ăn trước rồi nói chuyện.

              Đặc biệt, khi nghe anh ấy đùa “Qua đó về với em”, vợ tôi đã nhanh chóng chạy theo không chút do dự. Điều này càng làm nổi bật cảnh đói khổ cùng cực của nhân dân lúc bấy giờ. Trong cơn tuyệt vọng, cô không còn lựa chọn nào khác ngoài việc chớp lấy cơ hội theo đuổi những bộ phim truyền hình và nắm chặt lấy mạng sống mong manh của mình. Thật vậy, qua lai lịch, qua chân dung người vợ nhặt, người đọc càng thấy rõ hơn cái nghèo cùng cực không chỉ làm biến dạng ngoại hình mà còn làm biến dạng tính cách của một con người. Dù xót xa trước cách cư xử hơi thô tục, hơi mất tự nhiên của người vợ nhặt nhưng người đọc vẫn vô cùng thương cảm cho hoàn cảnh éo le của chị. “Lúc nói ra điều này, tôi cứ tưởng đùa, không ngờ lại là sự thật, lúc đầu anh ấy cũng hoang mang lắm, nghĩ bụng không biết cơm này có nuôi được thân mình không nữa. Tôi vẫn còn đèo núi .

              Đây là một người phụ nữ có khát vọng sống mãnh liệt. Đến khi quyết định làm vợ lần nữa, dù không biết cô ấy là ai, cũng không biết cô ấy đang đứng ở đâu. Nàng nhận làm vợ không cần lễ vật, không cần rước dâu. Bởi vì nàng hi vọng bây giờ làm vợ người ta sẽ không chết đói, không phải lang thang đầu đường xó chợ. Khi trở lại chùa, cô nhìn thấy nỗi kinh hoàng của ruột già, dù phải “nín thở dài” để che giấu nỗi thất vọng nhưng cô đã cố gắng chịu đựng và chỉ còn một tia sự sống.

              Qua miêu tả của nhà văn Kim Lan, người đọc có thể thấy bà tuy là một người phụ nữ vụng về, rách rưới nhưng lại rất lễ độ, ân cần. Trên đường đi đến hàng cột, cô cũng ngại ngùng, rón rén bước tới, đội mũ, hơi cúi đầu đi theo sau hàng cột. Lúc này, cô cũng cảm thấy ngại ngùng và xấu hổ về thân phận gái nhặt của mình. “Người đàn bà đi sau ông chừng ba bốn bước. Thị tay xách một chiếc thúng nhỏ, đầu hơi cúi xuống, chiếc nón lá rách nghiêng che nửa khuôn mặt, trông có vẻ rụt rè, bẽn lẽn.”

              Về đến nhà, dù tôi đòi ngồi nhưng vợ tôi vẫn tuân theo quy củ, chỉ dám ngồi cạnh giường. Thay vì phù phiếm và luống cuống như lúc ở hội chợ, cô ấy ôm chiếc giỏ bằng cả hai tay, cho thấy rằng cô ấy biết mình chưa phải là thành viên chính thức của gia đình. Rồi khi nhìn thấy mẹ chồng là mẹ chồng, cô ấy chẳng những không cúi đầu chào mà còn tỏ ra ngượng ngùng, ngượng ngùng. “Cô cúi đầu vuốt ve vạt áo rách tả tơi.” “Người phụ nữ hơi cựa quậy, nhưng cô vẫn đứng đó.” Anh đang định quay người bảo cô cởi áo nằm xuống, đã thấy cô ngồi ở chân giường, anh không dám. Anh lặng lẽ ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh, cả hai người đều ngượng ngùng không biết nói gì.

              Đặc biệt vào buổi sáng hôm sau, vẻ đẹp trang nghiêm của người vợ được khắc họa rõ nét. Khi cô ấy dậy sớm, dọn dẹp và lau chùi nhà cửa. Cô không còn “vui vẻ, tế nhị” mà là một người vợ đảm đang, hiền lành, đúng mực, biết sống có trách nhiệm với gia đình. “Nhà cửa, vườn tược hôm nay quét dọn sạch sẽ. Vài cái giẻ rách, như tổ đỉa, mười mấy năm chui rúc trong góc nhà, người ta mới thấy, mang vào sân. Dưới gốc cây ổi vẫn còn hai cái hồ chứa nước . Bể đã cạn nước đầy ắp. Đống mùn vương vãi lối đi hót sạch…vợ lau sân, tiếng chổi kêu kẽo kẹt trên mặt đất.”

              Hơn thế, khi đang ăn cháo cám, nhìn bát cháo đầy ắp nước, chị “mắt tối sầm lại”. Nhưng sau đó cô ấy bình tĩnh cho nó vào miệng mà không do dự. Điều này cho thấy cô ấy rất hiểu biết. Cô hiểu mẹ chồng sẽ khó chịu nếu cô bày tỏ thái độ không hài lòng. Vì thế, dù đắng cay trong miệng nhưng chị vẫn ăn ngon lành, khiến không khí gia đình vui vẻ thay vì khó chịu, buồn phiền.

              Không chỉ vậy, cô còn là một người tràn đầy khát vọng sống và tràn đầy niềm tin vào tương lai. Thị hào hứng kể chuyện Việt Minh đi phá kho thóc ở Tài Nguyên, Bắc Giang giúp dân. Điều này như thắp lên ngọn lửa hy vọng trong cả gia đình, đặc biệt là người ruột già.

              Tác giả kim uni dường như muốn gửi gắm một thông điệp rằng đói nghèo có thể tạm thời lấy đi phẩm giá của một con người nhưng không bao giờ có thể lấy đi tâm hồn nhân hậu của con người.

              Có thể thấy, qua nhân vật người vợ tiếp khách, tác giả đã gửi gắm một thông điệp có giá trị thiết thực và nhân văn sâu sắc. Người đọc không chỉ đồng cảm với số phận nghèo khổ, bị rẻ rúng của những người lao động trong nạn đói, thấy được khát vọng sống còn của họ mà còn lên án, tố cáo sự tàn bạo của chế độ phát xít, thực dân. Với cốt truyện độc đáo và cách khắc họa nhân vật ấn tượng, biên kịch Jin Woo đã tạo nên thành công rực rỡ cho tác phẩm này một cách tự nhiên và chân thực.

              ..

              Mời các bạn tải file tài liệu để xem thêm phân tích đặc điểm thị trường

Nguồn: https://xettuyentrungcap.edu.vn
Danh mục: Hỏi Đáp

Related Articles

Back to top button